vanban.org

Bản án 67/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T: Tiếp tục giao con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015 cho chị H trực tiếp nuôi, hiện con chung đang sống với chị H. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh Lâm Thanh T: Anh Lâm T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2022.
“V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình - ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Kiều.

2. Ông Nguyễn Phú Hữu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Ngày 29/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/11/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số nhà HTH, đường NTMK, ấp ĐS1, thị trấn NS, huyện TS, tỉnh AG.

- Bị đơn: Anh Lâm Thanh T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số nhà CB, đường NĐC, Khóm B, Phường H, thành phố CL, tỉnh ĐT.

(Các đương sự có mặt t i phiên t a

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức đám cưới năm 2014, hôn nhân có tìm hiểu trước khoảng 06 tháng, không có đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại gia đình nhà chồng. Khoảng 04 tháng sau, chị H mang thai nên về nhà cha mẹ ruột sống. Thời gian đầu, anh T có đến thăm vợ và điện thoại zalo nói với con, kéo dài khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Khoảng từ năm 2019 đến nay, anh T không liên lạc với chị H và con, chị H gọi điện thoại thì anh T không bắt máy. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Thanh T.

Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T có 01 con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015, hiện nay con chung đang sống chung với mẹ. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Lâm Thanh T trình bày:

Quan hệ hôn nhân: Anh T thống nhất lời trình bày của chị H về thời gian kết hôn, thời gian chung sống, cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Nay anh T nhận khuyết điểm với vợ con, mong muốn chị H cho anh thời gian để vợ chồng hàn gắn tình cảm.

Con chung: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T có 01 con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015, hiện nay con chung đang sống chung với chị H. Khi ly hôn, anh T đồng ý giao con chung cho chị H nuôi.

Tại phiên tòa, anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng bằng 02 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con.

Bị đơn anh Lâm Thanh T có địa chỉ tại Phường 2, thành phố Cao Lãnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T được xác lập vào năm 2014, do hai anh chị tự nguyện và thừa nhận, anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật, nhưng anh chị không có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét mâu thuẫn của anh chị để cho hay không cho ly hôn mà Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T để làm cơ sở chấm dứt mối quan hệ chung sống như vợ chồng của anh chị.

Xét con chung: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T thống nhất có 01 con chung và thống nhất thỏa thuận: Tiếp tục giao con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015 cho chị H nuôi, hiện nay con chung đang sống chung với chị H. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận, chị H được tiếp tục nuôi con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015.

Xét cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nhưng tại phiên tòa anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng bằng 02 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận của anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Xét tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; các Điều 9, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Ngọc H và anh Lâm Thanh T: Tiếp tục giao con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015 cho chị H trực tiếp nuôi, hiện con chung đang sống với chị H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh Lâm Thanh T: Anh Lâm ThanhT tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Lâm Quốc Khánh, sinh ngày 13/10/2015, cấp dưỡng hàng tháng bằng 02 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011688 ngày 25/10/2022 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, như vậy chị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ