vanban.org

Bản án 67/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Văn T.

Về con chung: Có 02 cháu: Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012; Đoàn Bảo T sinh ngày 02/05/2017. Xử giao cháu Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012 cho anh Đoàn Văn T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Giao cháu Đoàn Bảo T sinh ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an T-T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hoàng Liên

2. Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Tiến Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lương Xuân Toản – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1994 Địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bầy: Tôi và anh Đoàn Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 09 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn C, xã A, huyện V , tỉnh Yên Bái đến tháng 06 năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi và anh T tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hay cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được và vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 06 năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh T.

Về con chung: Có 02 cháu: Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012; Đoàn Bảo T sinh ngày 02/05/2017. Hiện nay cháu T đang ở cùng anh T và gia đình nhà anh T, còn cháu T đang ở cùng tôi. Khi ly hôn tôi và anh T thỏa thuận tôi nuôi cháu T, anh T nuôi cháu T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Tôi đồng ý. Thu nhập của tôi đi làm thuê một tháng được 7.000.000đồng đủ để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi và gửi Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T không có mặt theo các giấy tờ của Tòa án. Hiện nay hộ khẩu của anh T tại thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ của Tòa án cho anh T. Bà Đỗ Thị D là mẹ đẻ anh T đã trực tiếp nhận và thông báo giao lại cho anh T, anh T biết việc Tòa án báo gọi đến Tòa án để giải quyết việc chị Trần Thị Thanh T xin ly hôn anh. Nhưng anh T cố tình trốn tránh không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thể lấy lời khai và hòa giải theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự được.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Văn T.

Về con chung: Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Đoàn Văn T cho anh T nuôi dưỡng, giao cháu Đoàn Bảo T cho chị T nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T và anh Đoàn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 27 tháng 09 năm 2011 là hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn C, xã A, huyện V, tỉnh Yên Bái đến tháng 06 năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hay cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được và vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 06 năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị T xin ly hôn anh T là có căn cứ.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “V ch ng có ngh a

th ơng yêu chung thủy t n tr ng uan t m chăm óc giúp đ nhau c ng nhau chia s th c hi n c c c ng i c trong gia đ nh .

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị T và anh T hiện nay đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai nữa. Từ đó có căn cứ cho rằng tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị T được ly hôn anh T là có căn cứ.

Về con chung: Có 02 cháu: Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012; Đoàn Bảo T sinh ngày 02/05/2017. Hiện nay cháu T đang ở cùng anh T và gia đình nhà anh T, còn cháu T đang ở cùng chị T. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu được ổn định, đầy đủ và không làm xáo trộn cuộc sống của hai cháu và theo thỏa thuận của anh chị. Do vậy cần giao cháu T cho anh T nuôi dưỡng, giao cháu T cho chị T nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào là phù hợp với quy định tại điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Đoàn Văn T.

2. Về con chung: Có 02 cháu: Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012; Đoàn Bảo T sinh ngày 02/05/2017.

Xử giao cháu Đoàn Văn T sinh ngày 15/06/2012 cho anh Đoàn Văn T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Giao cháu Đoàn Bảo T sinh ngày 02/05/2017 cho chị Trần Thị Thanh T trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000đồng tiền án dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0003131 ngày 10 tháng 10 năm 2022 tại Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Tr ờng h p bản n uyết định đ c thi hành theo uy định tại Điều 2 Luật thi hành n D n th ng ời đ c thi hành n d n ng ời phải thi hành n d n

có uyền thoả thuận thi hành n uyền yêu cầu thi hành n t nguy n thi hành n hoặc bị c ng chế thi hành n theo uy định tại c c điều 6 7, 7a à 9 Luật thi hành n d n . Thời hi u thi hành n đ c th c hi n theo uy định tại điều 30 Luật thi hành n d n .

Cỡ chữ