vanban.org

Bản án 67/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 28/11/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án,

Không chấp nhận kháng cáo của Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T). Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Vũ Minh Á, bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Quang Tr tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án,
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 79 Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/DS-PT
Ngày 28/11/2022
V/v tranh chấp kiện đòi tài sản
là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Thẩm phán:

Bà Nguy n Th Tuy t H ng

Ông Nguy n Mạnh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Hà Văn D n - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện n L o, thành phố Hải Phòng b kháng cáo.

Theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71/2022/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L; cùng đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng; ông Á có mặt, bà L vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của đồng nguyên đơn: Ch Vũ Th L, nơi cư trú: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng (Giấy ủy quyền ngày 26 tháng 11 năm 2021), có mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T), đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: nh Bùi Văn D, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng; (Giấy ủy quyền ngày 20 tháng 12 năm 2021); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Duy Khoa và bà Đoàn Th Hu - Trợ giúp viên pháp lý, Tr tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Th Q, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, vắng mặt;

2. nh Bùi Văn D, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, có mặt;

3. Ch Phạm Th Qu, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, có mặt;

4. Ch Vũ Th N, đ a chỉ: Thôn Khúc Giản, x n Ti n, huyện An Lão, TP. Hải Phòng, vắng mặt;

5. Ch Vũ Th L, nơi cư trú: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, có mặt;

6. Ch Vũ Th Th, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, vắng mặt;

7. Ch Vũ Th Th B, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, vắng mặt;

8. nh Vũ Sáng Đ, đ a chỉ: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, TP. Hải Phòng, vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ch Vũ Th L, là đại diện theo uỷ quyền của Ch Vũ Th N, Ch Vũ Th Th, Ch Vũ Th Th B và nh Vũ Sáng Đ (Theo Giấy ủy quyền ngày 15 tháng 12 năm 2021), có mặt.

2. nh Bùi Văn D, là đại diện theo uỷ quyền của Bà Bùi Th Q (Theo Giấy ủy quyền ngày 15 tháng 12 năm 2021), có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn Tung), là b đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 11 năm 2021, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 06 và ngày 10 tháng 01 năm 2022 và các bản tự khai, nguyên đơn là ông Vũ Minh Á, bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chị Vũ Thị L, chị N, chị Th, chị B và anh Đ đều thống nhất trình bày: Năm 1994, hộ gia đình ông Vũ Minh Á có 07 người, được Nhà nước giao tổng diện tích 2.988m2 đất nông nghiệp là các thửa đất số 150, 60, 30, 415, 32 tại x Bát Trang, huyện n L o, thành phố Hải Phòng và đ được Ủy ban nhân dân huyện n L o cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0904498; số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00431/QSDĐ/ L cấp ngày 06 tháng 8 năm 1994 đứng tên chủ hộ là ông Vũ Minh Á. Năm 1995 gia đình ông Á th a thuận miệng cho ông Tr cấy lúa tại diện tích đất 192m2, thửa đất số 32 thuộc xứ đ ng Ải Kiểm, xóm 1, thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng với điều kiện sau mỗi vụ lúa ông Tr trả cho gia đình ông Á 25 kg thóc. Do diện tích đất đó nằm gần bên quán bán hàng nhà ông Tr nên con trai ông Tr là anh D đ đổ đất, san lấp ruộng để tr ng cây và làm nhà. Hiện nay anh D đang thực t quản lý, sử dụng diện tích đất đó. Đ nhiều vụ nay ông Tr không trả thóc cho gia đình ông Á như đ th a thuận và cũng không trả ruộng cho gia đình ông Á.Vì những lý do trên, ông Á và bà L khởi kiện ông Tr, yêu cầu ông Tr phải trả lại diện tích đất nêu trên để ông bà canh tác. Ngày 06 và ngày 10 tháng 01 năm 2022, ông Á, bà L và ch L có đơn thay đổi đối tượng khởi kiện: Theo đó đối tượng khởi kiện nguyên đơn đ nêu trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 11 năm 2021 là "diện tích đất nông nghiệp 192m2 tại thửa đất số 32 thuộc xứ đồng Ải Kiểm, xóm 1, thôn Thượng Tr, xã Bát Tr, huyện An L, Hải Phòng". Do gia đình ông Á được chia 02 thửa ruộng đều có diện tích đất 192m2 chỉ khác số thửa (thửa 32 và thửa 415) và cùng tờ bản đ số 3 nên ông Á, bà L đ nhầm lẫn về thông tin của đối tượng khởi kiện nên xin cải chính, thay đổi, bổ sung lại đặc điểm của đối tượng khởi kiện như sau: Đối tượng khởi kiện chính xác là diện tích đất nông nghiệp 192m2; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 nay là số thửa 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995; đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng. Yêu cầu khởi kiện của ông Á và bà L là buộc ông Tr phải trả lại diện tích đất này.

Bị đơn là ông Bùi Quang Tr, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bà Bùi Thị Q và Anh Bùi Văn D. Anh D là người đại diện theo ủy quyền của ông Tr và Qu, đều thống nhất trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Về quan hệ gia đình, anh D là con trai của ông Tr, hiện tại anh D đang sử dụng tổng diện tích đất 668m2, số thửa 184, tờ bản đ F-48-118 -(169-B-II), đ a chỉ: thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, thành phố Hải Phòng, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có ngu n gốc cụ thể như sau: Trong tổng diện tích đất 668m2, có 144m2 là đất nông nghiệp của bà nội anh D là cụ Nguy n Th Vuông (đ ch t năm 2015), cho bố đẻ anh D là ông Bùi Quang Tr từ năm 1986, ông Tr ở tại diện tích đất này từ năm 1986 đ n năm 1999 thì cho anh D. Diện tích đất 192m2 mà ông Á và bà L đang khởi kiện ông Tr cùng nằm trong tổng diện tích đất 668m2, có v trí nằm ở phần cuối thửa đất của anh D đang quản lý sử dụng. Diện tích đất này có ngu n gốc là của ông Vũ Văn Y n, người cùng thôn (ông Y n đ ch t nhiều năm nay), ông Y n đ trả lại cho Hợp tác x Thượng Trang từ năm 1993. Ông Tr xin sử dụng diện tích đất này và đ được ghi vào Sổ đăng ký kê khai sử dụng đất đai của thôn từ đó. Nội dung này có đ a chính là ông Nguy n Văn T và trưởng thôn là ông Vũ Đức Nh ở thời điểm đó bi t. Diện tích đất 332m2 còn lại cũng nằm trong tổng diện tích đất 668m2, là đất hành lang giao thông đường do gia đình ông Tr cơi nới mà có. Năm 1995 ông Tr đ chuyển nhượng cho em gái ruột là Bà Bùi Th Q diện tích đất khoảng 180m2, nằm trong tổng diện tích đất 668m2 nói trên với giá chuyển nhượng là 7.000.000đ (bảy triệu đ ng). Việc mua bán chỉ vi t giấy tay không qua chính quyền đ a phương, bà Qu đ xây dựng một căn nhà cấp 4 trên đất và có một phần ngôi nhà nằm trên diện tích đất có tranh chấp với ông Á. Từ trước đ n nay không có việc mua bán, đổi ruộng hay cấy thuê ruộng giữa ông Tr, anh D và gia đình ông Á, bà L. Do vậy mà ông Tr và anh D không đ ng ý trả lại diện tích đất nông nghiệp 192m2 theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Thông tin, tài liệu do Tòa án thu thập: Chính quyền đ a phương và toàn bộ những người làm chứng đều cung cấp nội dung khẳng đ nh diện tích đất nông nghiệp hiện đang có tranh chấp giữa hộ ông Á và ông Tr là của hộ gia đình ông Á được giao theo Ngh đ nh 64/CP của Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 8 năm 1994 và đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình ông Á vẫn trực ti p nộp sản lượng đất nông nghiệp hàng năm đối với diện tích đất trên. K t quả thẩm đ nh, đ nh giá tài sản, xác đ nh giá tr quyền sử dụng đất nông nghiệp có tranh chấp 192 m2 x 350.000đ/m2 = 67.200.000 đ ng. Giá tr tài sản trên diện tích đất có tranh chấp bao g m cây cối tr giá 7.060.000 đ ng, một phần nhà cấp 4 mái tôn 76m2 tr giá 63.120.909 đ ng, công san lấp mặt bằng 192m2 tr giá 46.665.408 đ ng.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đ trình bày. Về tài sản trên đất, nguyên đơn nhận thanh toán tiền công san lấp mặt bằng và giá tr cây cối hoa màu cho anh D. Một phần nhà mái tôn 76m2 đ xây dựng trên đất, nguyên đơn đề ngh Tòa án xem xét buộc người đ xây dựng phải tháo dỡ. B đơn, người đại diện theo ủy quyền của b đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho b đơn đều thống nhất ý ki n không đ ng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi một số lý do: Diện tích đất tranh chấp 192m2 nằm trong tổng diện tích đất 668m2, số thửa 184, tờ bản đ F-48-118 -(169-B-II), đ a chỉ: thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, thành phố Hải Phòng và Anh Bùi Văn D đ có tên trong tờ bản đ này. Đ ng thời anh D còn có tên trong Sổ mục kê năm 2000 của UBND x Bát Trang, thể hiện anh D là người thực t sử dụng diện tích đất có tranh chấp. Ông Tr và anh D đ sử dụng ổn đ nh diện tích đất trên từ năm 1995 đ n năm 2014 ông Tr mới kiện đòi trả lại ruộng. Quá trình xây dựng, tôn tạo trên đất, chính quyền đ a phương cũng không có ý ki n gì. Diện tích đất có tranh chấp có ngu n gốc của gia đình ông Vũ Văn Y n. Đề ngh Tòa án xem xét lời khai của ông Yên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Á có thể hiện 192m2 nhưng không thể hiện rõ v trí chiều dài, chiều rộng của đất giáp đất của ai. Đề ngh Tòa án xem xét công lao tôn tạo, tr ng trọt cây cối trên đất, đề ngh Tòa án mi n án phí dân sự sơ thẩm và đề ngh Tòa án bác toàn bộ yêu cầu thởi kiện của nguyên đơn.

Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện n L o, thành phố Hải Phòng xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L:

1. Buộc Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T) và nh Bùi Văn D phải trả lại hộ gia đình Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L diện tích đất nông nghiệp 192m2; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 (nay là thửa số 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995); đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng. Đất này đ được Ủy ban nhân dân huyện n L o cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0904498; số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00431/QSDĐ/ L ngày 06 tháng 8 năm 1994 cho chủ hộ là ông Nguy n Minh Ánh. V trí đất cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông Bùi Văn Vinh dài 13,5m; Phía Tây giáp đất hộ ông Khải dài 13,87 m; Phía Nam giáp đất hộ nh Bùi Văn D đang sử dụng dài 14,2 m; Phía Đông giáp đường thôn dài 13,87m.

2. Buộc Bà Bùi Th Q phải tự tháo dỡ một phần căn nhà cấp 4 có diện tích 76m2 đ xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp 192m2; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 (nay là số thửa 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995); đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng của hộ ông Bùi Minh Ánh.

3. Buộc Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L phải thanh toán cho Anh Bùi Văn D tổng tiền công tôn tạo, san lấp đất và giá tr cây tr ng trên đất là 53.725.408đ (năm mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, bốn trăm linh tám đ ng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, ngh a vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/7/2022, b đơn ông Bùi Quang Tr kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2022/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện n L o, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý ki n đ trình bày như ở Tòa án cấp sơ thẩm không bổ sung gì thêm.

- Ông Bùi Quang Tr giữ nguyên ý ki n trình bày như tại cấp sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng cáo. B đơn, người đại diện theo ủy quyền của b đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho b đơn đều thống nhất ý ki n không đ ng ý nội dung bản án sơ thẩm vì lý do: Thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 và thửa 184, tờ bản đ F-48-118-(169-B-II) không có tài liệu chứng minh 02 thửa là một, diện tích đất tranh chấp 192m2 nằm trong tổng diện tích đất 668m2, số thửa 184, tờ bản đ F-48-118-(169-B-II), đ a chỉ: thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, thành phố Hải Phòng, nh Bùi Văn D đ có tên trong tờ bản đ này đ ng thời anh D còn có tên trong Sổ mục kê năm 2000 của UBND xã Bát Trang quản lý, thể hiện anh D là người thực t sử dụng diện tích đất có tranh chấp. Ông Tr và anh D đ sử dụng ổn đ nh diện tích đất trên từ năm 1995 đ n năm 2014 ông Ánh mới kiện đòi trả lại thửa đất. Quá trình xây dựng, tôn tạo trên đất, chính quyền đ a phương cũng không có ý ki n gì. Diện tích đất có tranh chấp có ngu n gốc của gia đình ông Vũ Văn Y n. Đề ngh Tòa án xem xét lời khai của ông Yên (là con trai ông Y n). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Á có thể hiện 192m2 nhưng không thể hiện rõ v trí thửa đất giáp đất của ai. Đề ngh cấp phúc thẩm xem xét bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đ ng xét xử tuân theo đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và ngh a vụ của mình đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Tòa án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mi n án phí dân sự sơ thẩm cho b đơn theo quy đ nh của pháp luật. Buộc nguyên đơn thanh toán giá tr công san lấp mặt bằng và giá tr cây cối, hoa màu trên đất cho nh Bùi Văn D và buộc bà Qu phải tháo dỡ phần nhà cấp 4 xây dựng trên đất nông nghiệp là có căn cứ và đúng pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, Ngh quy t 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH đề ngh Hội đ ng xét xử cấp phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của b đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí dân sự phúc thẩm: B đơn là người cao tuổi nên được mi n án phí dân sự phúc thẩm theo quy đ nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ, k t quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận đ nh:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quy t: Đây là vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. Tài sản có tranh chấp ở huyện n L o; b đơn nơi cư trú tại huyện n L o, thành phố Hải Phòng nên Tòa án huyện n L o thụ lý, giải quy t theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.

Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguy n Th Lộng và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan vắng mặt, nhưng người đại diện theo ủy quyền của họ đều có mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử ti n hành xét xử vắng mặt những người này.

Về yêu cầu kháng cáo: B đơn là Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T) kháng cáo Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện n L o do không đ ng ý với nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện n L o.

Xét yêu cầu kháng cáo của ông Tr:

Về ngu n gốc diện tích 192m2 đất nông nghiệp đang tranh chấp:

Tài liệu trong h sơ thể hiện năm 1994, hộ gia đình ông Vũ Minh Á có 07 người, được Nhà nước giao tổng diện tích 2.988m2 đất nông nghiệp g m các thửa đất số 150, 60, 30, 415, 32 tại x Bát Trang, huyện n L o, thành phố Hải Phòng và đ được Ủy bân nhân dân huyện n L o cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0904498; số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00431/QSDĐ/ L. Trong đó có thửa 32 diện tích 192m2 ở cánh đ ng Chúm và thửa số 415 diện tích 192m2 ở khu vực xứ đ ng Ải Kiểm, hàng năm gia đình nhà ông Á vẫn đóng thu và các khoản phí nông nghiệp cho hợp tác x (có sổ sách theo dõi). Ông Vũ Văn Đệ là xóm trưởng từ năm 1999 đ n năm 2004, ông Vũ Văn B là xóm trưởng xóm 2 từ năm 1985 đ n năm 2004 và ông Bùi Đức N là đội trưởng đội sản xuất số 1 từ năm 1993 đ n năm 1998 đều khẳng đ nh diện tích 192m2 đất nông nghiệp ở khu vực xứ đ ng Ải Kiểm là của hộ gia đình nhà ông Vũ Minh Á được hợp tác x chia từ năm 1994 và đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cán bộ đ a chính x cũng khẳng đ nh diện tích 192m2 đất nông nghiệp ở khu vực xứ đ ng Ải Kiểm là của hộ gia đình nhà ông Á. Từ phân tích trên có căn cứ khẳng đ nh diện tích đất nông nghiệp 192m2 thửa số 415 ở khu vực xứ đ ng Ải Kiểm là của hộ gia đình nhà ông Vũ Minh Á.

B đơn ông Bùi Quang Tr khai diện tích đất 192m2 là đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Y n người cùng thôn trả ra từ năm 1993, ông đ xin và được hợp tác x giao cho hộ gia đình ông sử dụng từ đó đ n nay. Trong quá trình sử dụng con trai ông là Bùi Văn Dũng đ có tên trong tờ bản đ và trong Sổ mục kê năm 2000 của UBND xã Bát Trang quản lý. Hội đ ng xét xử xét trong số các thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình nhà ông Tr được giao không có thửa 415 diện tích 192m2, Ủy ban nhân dân x và những cán bộ hợp tác x thời kỳ đó đều khẳng đ nh không giao diện tích đất 192m2 tại xứ đ ng Ải Kiểm cho hộ gia đình ông Tr, tại công văn số 72/CV-UBND, ngày 07/11/2022 cũng xác đ nh tại thời điểm đo đạc bản đ đ a chính, nh Bùi Văn D là người trực ti p sử dụng diện tích đất 192m2 nên có tên trong tờ bản đ F48-118 (169-B-II). Do vậy đ n năm 2000, lập sổ mục kê quy chủ sử dụng đất, tại thời điểm kê khai, thửa đất số 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) thì diện tích 192m2 nằm trong cùng thửa đất mang tên Bùi Văn Dũng. Như vậy ngoài lời khai của ông Tr không còn chứng cứ nào khác chứng minh diện tích đất này là của hộ gia đình nhà ông Tr nên không có căn cứ chấp nhận.

Về v trí diện tích thửa đất tranh chấp: B đơn ông Bùi Quang Tr thừa nhận diện tích đất tranh chấp là đất nông nghiệp nằm ở phần cuối thửa đất của anh D đang quản lý sử dụng. Tại công văn số 72/CV-UBND, ngày 07/11/2022 Ủy ban nhân dân x Bát Trang xác đ nh thửa đất số 415, tờ bản đ số 3, diện tích 192m2 , đ a chỉ : Thôn Thượng Trang, x Bát Trang được UBND huyện n L o cấp GCNQSDĐ ngày 06/8/1994 cho hộ ông Vũ Minh Á và diện tích 648m2 thửa số 415, tờ bản đ số 3, đ a chỉ: Thôn Thượng Trang, x Bát Trang được UBND huyện n L o cấp GCNQSDĐ ngày 06/8/1994 cho hộ ông Bùi Văn V, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 đều cùng nằm trong 01 thửa đất (415) và có v trí ti p giáp, liền kề với nhau (có tài liệu kèm theo: Sổ theo dõi cấp GCNQSDĐ). Hiện nay theo bản đ đ a chính và sổ mục kê năm 2000 thì 02 diện tích đất này vẫn liền kề và ti p giáp nhau. Tại Biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện n Lão và sơ đ hiện trạng đ xác đ nh v trí thửa đất tranh chấp cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông Bùi Văn Vinh dài 13,5m; Phía Tây giáp đất hộ ông Khải dài 13,87 m; Phía Nam giáp đất hộ nh Bùi Văn D đang sử dụng dài 14,2 m; Phía Đông giáp đường thôn dài 13,87m. V trí này hoàn toàn phù hợp với GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Bùi Văn V và GCNQSDĐ cấp cho hộ ông Vũ Minh Á theo nội dung công văn số 72/CV-UBND, ngày 07/11/2022 của UBND x Bát Trang. Như vậy có căn cứ xác đ nh diện tích đất tranh chấp chính là diện tích đất Tòa án nhân dân huyện n L o đ xem xét thẩm đ nh.

Về hợp đ ng thuê đất: Nguyên đơn ông Vũ Minh Á khai năm 1995 do việc cấy lúa không có hiệu quả nên ông đ cho ông Bùi Quang Tr cấy thuê mỗi vụ trả 25kg thóc, hai bên th a thuận miệng không lập văn bản, ông Bùi Quang Tr không thừa nhận nội dung này ông không thuê đất của ông Á. Hội đ ng xét xử xét: Như phân tích tại mục [4.1] đ xác đ nh diện tích đất nông nghiệp 192m2 , đ a chỉ: Thôn Thượng Trang, xã Bát Trang là của hộ ông Vũ Minh Ánh được hợp tác x giao cho sử dụng và được UBND huyện n L o cấp giấy CNQSDĐ đứng tên hộ ông Vũ Minh Á. Từ trước tới nay giữa ông Á và ông Tr không có việc mua bán, chuyển đổi, tặng cho diện tích đất này. Hiện tại, gia đình ông Tr đang quản lý sử dụng đất này do vậy ông Á khai cho ông Tr cấy thuê là có căn cứ chấp nhận. Quá trình thuê đất ông Tr không thực hiện ngh a vụ theo th a thuận trả thóc hàng năm cho ông Á nên ông Vũ Minh Á khởi kiện đòi lại diện tích đất cho thuê là có căn cứ chấp nhận.

Về xử lý tài sản trên đất có tranh chấp: Quá trình sử dụng đất nông nghiệp, anh D đ san lấp, tôn tạo mặt bằng diện tích 192m2 tr giá 46.665.408 đ ng và tr ng trọt cây cối trên đất tr giá 7.060.000 đ ng. Tổng giá tr tài sản trên đất của anh D có tranh chấp là 53.725.408 đ ng. Gia đình ông Á có bi t nhưng không ngăn cản, nay ông Á lấy lại đất thì phải thanh toán tiền công tôn tạo và giá tr cây cối đ tr ng trên đất cho anh D. Tại phiên tòa, nguyên đơn đ ng ý thanh toán cho anh D 53.725.408 đ ng là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Ông Bùi Quang Tr khai quá trình sử dụng đất ông đ chuyển nhượng cho em ruột là Bà Bùi Th Q diện tích khoảng 180m2, qua xem xét thẩm đ nh trong đó có 76m2 đất nông nghiệp, xét việc chuyển nhượng đất nông nghiệp không qua chính quyền xác nhận nên không có hiệu lực, bà Qu đ xây dựng trái phép một căn nhà cấp 4 có diện tích 76m2 nằm trên một phần diện tích đất nông nghiệp ông Tr và anh D phải trả cho ông Á, bà L nên buộc bà Qu phải tự tháo dỡ tài sản để trả lại hiện trạng đất nông nghiệp cho hộ ông Á sử dụng đúng với mục đích được giao theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 79 Luật đất đai năm 1993.

Từ phân tích trên xét thấy, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L. Buộc ông Bùi Quang Tr và Anh Bùi Văn D phải trả lại hộ gia đình Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L diện tích 192m2 đất nông nghiệp; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 (nay là thửa số 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995); đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng. Buộc Bà Bùi Th Q phải tự tháo dỡ một phần căn nhà cấp 4 có diện tích 76m2 đ xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp 192m2; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 (nay là số thửa 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995); đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng. Buộc Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L phải thanh toán cho nh Bùi Văn D tổng tiền công tôn tạo, san lấp đất và giá tr cây tr ng trên đất là 53.725.408đ (năm mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, bốn trăm linh tám đ ng) là có căn cứ pháp luật. B đơn ông Tr kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm và đề ngh Tòa phúc thẩm xem xét lại Bản án sơ thẩm nhưng ông Tr không cung cấp được chứng cứ gì khác chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Tr.

Về án phí: Kháng cáo của ông Tr không được chấp nhận nên ông Tr phải ch u án phí dân sự phúc thẩm theo quy đ nh. Xét ông Tr là người cao tuổi và có đơn xin mi n án phí, căn cứ Điều 12 của Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Tr được mi n án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 38, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 12, khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 176, Điều 254, Điều 263, Điều 264, Điều 285, khoản 3 Điều 286, Điều 604, Điều 607, khoản 2 Điều 690 của Bộ luật Dân sự 1995;

Căn cứ vào khoản 6 Điều 73, khoản 1, khoản 4 Điều 79 Luật Đất đai 1993;

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án,

- Không chấp nhận kháng cáo của Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T). Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Buộc Ông Bùi Quang Tr (Bùi Văn T) và nh Bùi Văn D phải trả lại cho hộ gia đình Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L diện tích 192m2 đất nông nghiệp; thửa đất số 415, tờ bản đ số 3 năm 1983 (nay là số thửa 184, tờ bản đ F48-118 (169-B-II) năm 1995); đ a chỉ thửa đất: Thôn Thượng Tr, x Bát Tr, huyện n L, Hải Phòng. V trí diện tích đất được xác đ nh bởi các mốc giới (1,2,3,4,8,7) có kích thước cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông Bùi Văn Vinh dài 13,5m; Phía Tây giáp đất hộ ông Khải dài 13,87 m; Phía Nam giáp đất hộ Anh Bùi Văn D đang sử dụng dài 14,2 m; Phía Đông giáp đường thôn dài 13,87m (có sơ đ kèm theo bản án).

2. Buộc Bà Bùi Th Q phải tự tháo dỡ 76m2 nhà cấp 4 v trí xác đ nh bởi các mốc giới (1,2,8,7) có kích thước cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất hộ ông Bùi Văn Vinh dài 5,5m; Phía Tây giáp đất hộ ông Khải dài 13,87m; Phía Nam giáp đất hộ Anh Bùi Văn D đang sử dụng dài 5,5m; Phía Đông giáp phần đất của ông Á, bà L nhận lại của ông Tr, anh D dài 13,87m (có sơ đ kèm theo bản án).

3. Buộc Ông Vũ Minh Á và bà Nguy n Th L phải thanh toán cho Anh Bùi Văn D tổng tiền công tôn tạo, san lấp đất và giá tr cây tr ng trên đất là 53.725.408đ (năm mươi ba triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn, bốn trăm linh tám đ ng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, n u người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải ch u khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy đ nh tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đ n khi thi hành án xong.

4. Về án phí: Ông Bùi Quang Tr không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng ch thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ