- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 67 /2021/ HSST Ngày: 28 / 9 / 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Hiểu;
- Bà Trần Thị Son.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Hải - Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/ 2021/ HSST ngày 14/9/2021; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2021/QĐXXST - HS ngày 16/9/2021 đối với:
Bị cáo: Cao Văn N - Sinh ngày: 14/6/1985. Giới tính: Nam. (Có mặt).
Nơi ĐKHK và cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông Cao Đức N (Đã chết); Con bà Nguyễn Thị Thanh V - Sn: 1955. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 23/4/2004 Nam bị Công an huyện Thanh Trì, TP. Hà Nôi xử lý hành chính; Bản án số: 148/2004/HSST ngày 13/8/2004 của TAND quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội đã xử phạt Cao Văn N 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số: 234/ 2004/HSST ngày 29/10/2004 của TAND quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội đã xử phạt Cao Văn N 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tổng hợp cả 02 bản án buộc Nam phải chịu 20 tháng tù. Bản án số: 400/2008/HSST ngày 26/8/2008 của TAND quận Đống Đa, Tp. Hà Nội đã xử phạt Cao Văn N 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Cả 03 bản án trên Cao Văn N đã chấp hành xong và đều đã được xóa án tích. Cao Văn N bị tạm giữ từ ngày 14/4/2021 đến nay.
*Ngƣời làm chứng: - Anh Phạm Văn Đ - Sn: 1990. (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Lê Văn L - Sn: 1979. (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 07h00’ ngày 12/4/2021, Cao Văn N bắt xe từ nhà đi lên thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy; Tại đây Cao Văn N gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ giống người nghiện và N hỏi mua ma túy đá; Người đàn ông này đồng ý bán; Cao Văn N đưa cho người đàn ông 700.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho N 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa bốn đoạn ống nhựa mầu cam, sọc đỏ đều hàn kín hai đầu, biết đây là ma túy đá, N nhận số ma túy đá và cất vào túi quần bên phải, phía trước đang mặc, rồi bắt xe về nhà. Khi về nhà N lấy 01 đoạn ống nhựa cho sang túi quần bên trái, phía trước Nam đang mặc. Đến khoảng 12h00’ ngày 14/4/2021, N đi ra ngoài có việc riêng, khoảng 30 phút sau, khi N về đến trước cửa nhà bà N tại trục đường liên xã tại thôn T, xã Đ thì bị Công an huyện Tiền Hải phát hiện, bắt quả tang. Công an huyện Tiền Hải đã dẫn giải Nam và mời các người làm chứng về trụ sở UBND xã Đ, huyện Tiền Hải để kiểm tra, làm rõ. Qúa trình Kiểm tra, Cao Văn N tự giác lấy từ túi quần bên phải, phía trước đang mặc 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa ba đoạn ống nhựa mầu cam, sọc đỏ đều hàn kín hai đầu, mở ra bên trong đều có chứa chất tinh thể trong suốt và lấy 01 đoạn ống nhựa mầu cam, sọc đỏ đều hàn kín hai đầu, mở ra bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt tại túi quần bên trái, phía trước N đang mặc giao nộp cho Công an huyện Tiền Hải và khai nhận đó là số ma túy đá N đã mua của người đàn ông không quen biết tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày 12/4/2021 với giá 700.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản quản lý, niêm phong vật chứng.
Bản cáo trạng số: 67/CT- VKSTH ngày 13/9/2021 VKSND huyện Tiền Hải truy tố Cao Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Đại diện VKSND huyện Tiền Hải đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt Cao Văn N từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì Cao Văn N là người nghiện ma túy và không có công việc ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Khoản 2 điều 106 BLTTHS. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,8880 gam Methamphetamine thu giữ của Cao Văn N; Sau giám định còn lại 0,7155 gam Methamphetamine cùng bao gói. Tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, có 01 ống hút và 01 ống thủy tinh gấp khúc hình cầu để tiêu hủy cùng bao gói. Trả lại Cao Văn N số tiền 340.000 đồng. Về án phí: Bị cáo Cao Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của Cao Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật; Bản kết luận giám định số: 120/KLGĐMT- PC09 ngày 15/4/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,8880 gam”; Và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12h30’ ngày 14/4/2021, tại khu vực đường liên xã, thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện T; Công an huyện Tiền Hải đã phát hiện, bắt quả tang Cao Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 04 ống chứa Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,8880 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Cao Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
“Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………………………….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine ……...…., có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Cao Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Cao Văn N được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo; Xét thấy, ma túy luôn là hiểm họa của toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác; Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đã 03 lần Nam bị TAND các cấp xét xử, trong đó có 01 lần N bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng N vẫn không rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục cố tình phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của Cao Văn N cần thiết phải xử phạt nghiêm minh bằng hình phạt tù, phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy, N là người nghiện, không có việc làm ổn định; Nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Cao Văn N.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 bộ hút ma túy đá gồm: 01 chai nhựa màu trắng, có 01 ống hút và 01 ống thủy tinh gấp khúc hình cầu, cùng 0,8880 gam Methamphetamine thu giữ của Cao Văn N; Sau giám định còn lại là 0,7155 gam. Xét thấy 01 chai nhựa là vật không giá trị, số Methamphetamine trên là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; Nên cần tịch thu để tiêu hủy cùng bao gói.
Đối với số tiền 340.000 đồng thu giữ của N; Xét thấy số tiền trên không liên quan đến vụ án nên cần trả lại Cao Văn N số tiền 340.000 đồng.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc 0,8880 gam Methamphetamine: Cao Văn N khai toàn bộ số ma túy đá mà Công an huyện Tiền Hải thu giữ là do Cao Văn N mua của 01 người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 12/4/2021. Do vậy, Cơ quan điều tra - Công an huyện Tiền Hải không có đủ cơ sở điều tra, xác minh làm rõ người đàn ông đã bán ma túy cho Cao Văn N để xử lý theo quy định của pháp luật.
[ 8] Về án phí: Bị cáo Cao Văn N phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38; điều 47 BLHS; Khoản 2 điều 106; điều 136; điều 331; điều 333 BLTTHS; Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1./ Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2./ Về hình phạt: - Xử phạt Cao Văn N 02 (Hai) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14 tháng 4 năm 2021.
3./ Về vật chứng:
- Tịch thu của Cao Văn N: 0,8880 gam Methamphetamine, (Sau giám định còn lại 0,7155 gam Methamphetamine) và 01 chai nhựa màu trắng, có 01 ống hút và 01 ống thủy tinh gấp khúc hình cầu để tiêu hủy cùng bao gói.
- Trả lại Cao Văn N số tiền 340.000 đồng (Theo ủy nhiệm chi lập ngày 13/9/2021 tại Kho bạc nhà nước huyện Tiền Hải).
(Toàn bộ vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục THADS huyện Tiền Hải quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/9/2021).
4./ Về án phí:
Buộc Cao Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5./ Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Cao Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 28/9/2021.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND h Tiền Hải; Công an huyện TH; TAND t Thái Bình; Chi cục THADS TH; Lưu hồ sơ, VP; | ( đã ký) Phạm Hải Bảo |