vanban.org

Bản án 67/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Đình C: 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình C bị xét xử về tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/HSST
Ngày: 05-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hữu Nghị;

2. Ông Lê Văn Hồng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2021/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN ĐÌNH C, sinh ngày 27/9/1977 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T, sinh năm 1953 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1952, hiện ông bà đang sinh sống tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 và có 02 con (con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005), hiện vợ con đang sinh sống tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 (Năm 2020, bị Công an huyện Krông Năng ra Quyết định xử phạt hành chính số 883/QĐ-XPHC ngày 06/11/2020, với số tiền 1.300.000 đồng về hành vi đánh bạc).

Nhân thân: Ngày 23/2/2021, thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 01/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (tại Bản án số 52/2021/HSST ngày 01/9/2021).

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Dương Thị C, sinh năm 1971; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt);

+ Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1982; trú tại: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt);

+ Bà Dương Thị Hồng T, sinh năm 1966; trú tại: Thôn H, xã T; huyện N, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đình C có một tiền sự về hành vi đánh bạc, ngày 06/11/2020 bị Công an huyện Krông Năng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Sau đó, ngày 23/02/2021 C tiếp tục có hành vi đánh bạc, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, vụ án đang trong giai đoạn truy tố.

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 12/7/2021, Trần Đình C đến quán bán hàng tạp hóa của bà Dương Thị C, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk chơi thì gặp ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1982, trú tại thôn H, xã T, huyện N. Khoảng 05 phút sau thì có thêm bà Dương Thị Hồng T, sinh năm 1966, trú tại thôn H, xã T, huyện N cũng đến chơi. Lúc này, bà C1 rủ đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Thống nhất mỗi người góp 20.000 đồng đưa cho bà C1 để mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và nước uống. Sau đó, bà C1 lấy 01 chiếc chăn trải lên chiếc chiếu trên phản gỗ để đánh bài.

Cách thức đánh bài phỏm như sau:

Một người sẽ sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá (gồm các quân bài A, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K) chia đều thành 4 phần, mỗi phần có 9 lá, người chia bài sẽ được 10 lá (những ván tiếp theo người nào ít điểm nhất ở ván trước sẽ được chia bài), số bài dư còn lại được đặt dưới chiếu bạc để bốc khi đánh gọi là “nọc”. Người chia bài đánh 01 lá bài cho người kế bên, người kế bên kiểm tra nếu vào phỏm thì ăn cây bài này, nếu người kế bên không ăn được thì bốc bài nọc lên. Sau khi ăn bài hoặc bốc bài thì người chơi phải đánh ra một lá bài cho người kế tiếp và cứ thế đánh đến khi bài bốc dưới chiếu hết. Trong quá trình chơi, ván bài sẽ kết thúc khi trong bàn có một người chơi ù (ù là tất cả các lá bài đều có phỏm); nếu trong bàn không có ai ù, thì sau bốn vòng đánh ván bài sẽ kết thúc, người chơi sẽ hạ các phỏm xuống và tính tổng điểm.

Phỏm: là bộ bài gồm có 03 lá bài trở lên cùng chất và số liên tiếp nhau hoặc bộ ba quân bài khác chất nhưng cùng số. Số cây còn lại sau khi hạ phỏm được dùng để tính điểm. Tính điểm theo thứ tự từ A đến K là 01 điểm đến 13 điểm, nếu ai có số điểm thấp nhất là thắng còn lại là hai, ba, tư. Nếu có hai người chơi trở lên cùng có số điểm bằng nhau thì người nào hạ bài trước sẽ có vị trí cao hơn người còn lại. Người chơi không hạ được phỏm sẽ là cháy.

Quá trình đánh bài nếu ai “Ù” thì mỗi người thua phải trả 25.000 đồng. Cây bài đầu bị ăn thì người bị ăn phải trả 5.000 đồng, cây thứ hai là 10.000 đồng, cây thứ ba là 15.000 đồng. Sau khi kết thúc ván chơi, người chơi về nhất sẽ thắng số tiền của những người còn lại lần lượt số tiền là: 5.000 đồng người thua hai, 10.000 đồng người thua ba và 15.000 đồng người thua tư.

Đến khoảng 21h cùng ngày, khi bà C1 chia bài ván đầu tiên, đánh được 02 lá thì bị Công an bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

* Về tiền: Tổng số 450.000 đồng, trong đó: Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 130.000 đồng; thu giữ trên người Trần Đình C 70.000 đồng, thu giữ trên người Dương Thị C1 42.000 đồng, thu giữ trên người Huỳnh Văn D 205.000 đồng, thu giữ trên người Dương Thị Hồng T 3.000 đồng.

* Công cụ dùng vào việc đánh bạc: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu nhựa; 01 chiếc chăn được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Trần Đình C, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình C khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/7/2021, Trần Đình C đến tiệm tạp hóa của bà Dương Thị C1 để chơi thì gặp ông Huỳnh Văn D đang ở quán. Khoảng 05 phút sau thì bà Dương Thị Hồng T đến và bà C1 rủ đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền thì tất cả đều đồng ý tham gia. Các đối tượng thống nhất mỗi người góp 20.000 đồng đưa cho bà C1 để mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá và nước uống. C mang theo 70.000 đồng và dùng hết số tiền này vào việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang thu giữ trên người của C số tiền 70.000 đồng; thu giữ trên chiếu bạc số tiền 130.000 đồng; thu giữ trên người của C1 số tiền 42.000 đồng; thu giữ trên người của D số tiền 205.000 đồng; thu giữ trên người của T số tiền 3.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên người con bạc và trên chiếu bạc 450.000 đồng.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra các chứng cứ buộc tội, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, như bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 13 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đình C phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đình C từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015: Tổng hợp hình phạt đối với Bản án số 52/2021/HSST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã tuyên phạt bị cáo Trần Đình C 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Đối với Dương Thị C1, Huỳnh Văn D và Dương Thị Hồng T, quá trình điều tra xác định: Các đối tượng trên chưa có tiền án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của 03 đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã tách hành vi của các đối tượng này để chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng (dùng vào việc đánh bạc) thu giữ trên người và trên chiếu bạc.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu nhựa; 01 chiếc chăn được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo Trần Đình C không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không trình bày, tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Các quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 12/7/2021, tại nhà của Dương Thị C1, ở thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Trần Đình C cùng với Dương Thị C1, Huỳnh Văn D và Dương Thị Hồng T cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm”, thắng thua bằng tiền. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng bắt quả tang thu giữ trên người của C số tiền 70.000 đồng; thu giữ trên người của C1 số tiền 42.000 đồng; thu giữ trên người của D số tiền 205.000 đồng; thu giữ trên người của T số tiền 3.000 đồng; thu giữ trên chiếu bạc số tiền 130.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên người con bạc và trên chiếu bạc 450.000 đồng.

Xét hành vi của bị cáo Trần Đình C đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 06/11/2020 nhưng ngày 12/7/2021 lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc là phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên mặc dù trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo vẫn tiếp tục tham gia đánh bạc nhằm thu lợi bất chính. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng, nhằm trừng trị người phạm tội, đồng thời để bị cáo có thời gian cải tạo, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Mặt khác, phát huy tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn huyện Krông Năng nói riêng, trên toàn xã hội nói chung.

. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

. Về nhân thân: Năm 2020, bị Công an huyện Krông Năng ra Quyết định xử phạt hành chính số 883/QĐ-XPHC ngày 06/11/2020, với số tiền 1.300.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Ngày 23/2/2021, thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 01/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (tại Bản án số 52/2021/HSST ngày 01/9/2021).

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

. Đối với hành vi của Dương Thị C1, Huỳnh Văn D và Dương Thị Hồng T, quá trình điều tra xác định: Các đối tượng trên chưa có tiền án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tổng số tiền các đối tượng cùng với bị cáo C dùng vào việc đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng, nên hành vi của 03 đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã tách hành vi của các đối tượng này để chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng (sử dụng vào việc đánh bạc) thu giữ trên người và trên chiếu bạc.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu nhựa; 01 chiếc chăn được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng.

. Về án phí: Bị cáo Trần Đình C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Đình C: 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015: Tổng hợp hình phạt đối với Bản án số 52/2021/HSST ngày 01/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã tuyên phạt bị cáo Trần Đình C 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là: 11 (Mƣời một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ trên người và trên chiếu bạc (theo biên lai thu tiền số 0001355 ngày 15/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đắk Lắk).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh-trắng-vàng; 01 chiếc chăn chiên màu trắng-hồng được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí: Bị cáo Trần Đình C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ