vanban.org

Bản án 67/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/HS-ST
Ngày 08 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh Các hội thẩm nhân dân:

Ông Giàng A Lợ

Ông Hà Văn Sơ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

TRẦN TUẤN A. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 02/8/1993 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Xóm 3, tiểu khu B, thị trấn C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc S, sinh năm 1959 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2021 đến nay, giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Ái D, sinh năm 19791. Địa chỉ: Bản A1, xã A2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối tháng 3/2021, bà Bùi Thị T, sinh năm 1958, trú tại tiểu khu 14, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La có thuê Trần Tuấn A và Hoàng Ái D đến sơn nhà cho gia đình bà. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/3/2021, Tuấn A mượn xe mô tô YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 26K1-116.91 của Hoàng Ái D để đi đến Cơ sở điều trị nghiện ma túy bằng thuốc Methadone huyện Mai Sơn thuộc tiểu khu 17, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, khi đi đến khu vực cổng trung tâm thì gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên Hòa. Tuấn A hỏi và mua được của người tên Hòa 01 gói Heroine với giá 100.000VNĐ rồi điều khiển xe về chỗ làm thuê. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Tuấn A lấy một phần Heroine ra góc vườn nhà bà T sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại Tuấn A gói vào mảnh giấy màu trắng và cất giấu vào cánh cửa tủ kính của Hoàng Ái D (chiếc tủ không có khóa do bà T cho D để đựng bát đũa). Tuấn A không nói cho D biết về việc cất giấu ma túy trong tủ. Đến khoảng 18 giờ 50 phút, Tuấn A điều khiển xe mô tô YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 26K1-116.91 chở Hoàng Ái D và chiếc tủ kính đi về nhà D. Khi đi đến khu vực bản A1, xã A2 thì bị tổ công tác Công an xã A2 và Công an xã Mường Bon huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Ngày 30/3/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Trần Tuấn A. Kết quả: Khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,12 gam; trích rút toàn bộ, ký hiệu M để làm mẫu giám định.

Ngày 02/4/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 700, kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12gam.”

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSMS ngày 25/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Trần Tuấn A từ 12 đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.

Trả cho bị cáo Trần Tuấn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE F112, vỏ màu đen, kèm theo 02 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ còn nguyên niêm phong.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Hoàng Ái D 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 26K1-116.91; 01 tủ kính nhôm, đã qua sử dụng cũ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Tuấn A khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, ngày 30/3/2021, bị cáo đã mua 01 gói Heroine với giá 100.000VNĐ cất giấu trong tủ của anh D nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, khi bị cáo đang chở anh Hoàng Ái D và tủ của D về nhà thì bị phát hiện bắt quả tang, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm quả tang lập hồi 18 giờ 50 phút ngày 30/3/2021 của tổ công tác Công an huyện Mai Sơn và kết luận giám định số 700 ngày 02/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy trong vụ án của Trần Tuấn A là chất ma túy, loại chất Heroine, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận tổng khối lượng 0,12gam Heroine thu giữ trong vụ án được cân tịnh dưới sự có mặt của bị cáo, với các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Tuấn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, không có tiền án, tiền sự; bố đẻ của bị cáo là ông Trần Ngọc S là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và Huân chương chiến công hạng nhất, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo không có tài sản gì đáng giá, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định. Xét thấy đây là những vật dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE F112, vỏ màu đen, kèm theo 02 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ còn nguyên niêm phong. Xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo Trần Tuấn A, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 26K1-116.91; 01 tủ kính nhôm, đã qua sử dụng cũ. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Ái D, việc bị cáo dùng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy và việc bị cáo cất giấu ma túy tại tủ kính nhôm D không biết. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn trao trả những tài sản trên cho Hoàng Ái D là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về nguồn gốc ma túy, Tuấn A khai mua của một người đàn ông tên Hòa (Tuấn A không biết tuổi, địa chỉ) tại khu vực tiểu khu 17, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; việc mua bán không có ai biết, chứng kiến, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với Hoàng Ái D, quá trình điều tra xác định D không biết việc Tuấn A tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đặt vấn đề xử lý đối với D là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu được niêm phong số 050185 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên bề mặt giấy niêm phong có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký ghi rõ họ tên của đối tượng Trần Tuấn A. Một mặt phong bì ghi chữ: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; mảnh giấy màu trắng gói ma túy ban đầu, còn nguyên niêm phong (không mở niêm phong kiểm tra).

Trả cho bị cáo Trần Tuấn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE F112, vỏ màu đen, kèm theo 02 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ (không mở niêm phong kiểm tra).

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Hoàng Ái D 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển kiểm soát 26K1-116.91; 01 tủ kính nhôm, đã qua sử dụng cũ.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/7/2021); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ