vanban.org

Bản án 67/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/HS-ST
Ngày 29-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Thịnh

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Khương Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị V, có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/8/2021, tạm giam ngày 26/8/2021 (có mặt);

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; trú tại: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

Người làm chứng: Anh Lê Văn A sinh năm 1974; trú tại: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 19/8/2021, Lê Văn A đi chơi tại khu vực xã B, huyện L thì gặp Nguyễn Văn H1, sinh năm 1979 ở xã L, huyện S, do H1 lên cơn nghiện ma túy nên rủ A đến nhà bạn là Nguyễn Văn H chơi nhưng mục đích là để H1 mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H1 và A đi bộ đến thấy H đang ở nhà một mình, H1 bảo A đứng chờ ở cổng còn H1 đi vào sân gặp H, tại đây H1 hỏi mua 01 gói ma túy với giá 250.000đồng thì H đồng ý, H1 lấy 250.000đồng (gồm 05 tờ tiền có mệnh giá 50.000đồng) trong túi quần bên phải đang mặc đưa cho H, H cầm tiền đúc vào túi quần bên phải đang mặc đồng thời lấy 01 gói ma túy (heroine) bọc bằng giấy trắng đưa cho H1. H1 vừa cầm gói ma túy cất vào trong bao thuốc lá Thăng Long rồi đúc vào túi quần phía trước bên trái đang mặc thì bị Công an huyện Lập Thạch bắt quả tang. Thu giữ: Trong túi quần H1 đang mặc 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu trắng chứa chất bột cục màu trắng được niêm phong ký hiệu A1 và 01 mẩu giấy có ghi các số 1274, 7510, 1532, 7724, 9734 - H1 khai gói nhỏ chứa chất bột màu trắng là gói ma túy (heroin) vừa mua của Nguyễn Văn H; Thu giữ trong túi quần của Nguyễn Văn H đang mặc số tiền 550.000đồng (gồm 11 tờ tiền có mệnh giá 50.000đồng có số seri lần lượt là: IB20781887, RJ17379943; NA14777724; OV19329734; OR17031274; TJ20207510; PY19411532; VE17016534; TW19613318; HW19474660; OQ17860121) - H khai trong đó có 250.000đồng là tiền vừa bán ma túy cho H1 mà có.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài sản của Nguyễn Văn H đã thu giữ tại nền phòng ngủ tầng hai nhà ở của H: 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong có 02 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 túi ni lon màu trắng bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng, được niêm phong cùng một mẫu ký hiệu A2; Thu giữ tại mặt thảm đệm trong phòng ngủ tầng 2 nhà ở của H: 01 túi ni lon màu trắng bên trong có chứa các tinh thể dạng đá màu trắng, được niêm phong ký hiệu A3; 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 ví giả da màu nâu bên trong có 5.050.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao số 0878.272591.

Tại bản Kết luận giám định số 2055/KLGĐ ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“1. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0215g (không phảy không hai một năm gam, không kể bao bì), loại Heroine.

2. Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 1,4141g (một phảy bốn một bốn một gam, không kể bao bì), loại Heroine.

3. Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0811g (không phảy không tám một một gam), loại Methamphetamine."

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận đây là lần đầu tiên bán chất ma túy và khai nhận số ma túy trên đều là của H mua của một người đàn ông tên H nhưng không rõ lai lịch cụ thể tại khu vực B thuộc xã T, huyện S vào tối ngày 18/8/2021 một gói ma túy với giá 1.200.000đồng, người này cho H thêm 01 túi ni lon nhỏ chứa ma túy đá, sau đó H chia nhỏ bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do không biết tên và địa chỉ cụ thể của người đã bán ma túy cho H nên Cơ quan điều tra không có thông tin để xác minh, điều tra.

Đối với đối tượng tự khai là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1979 ở xã L, huyện S, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra H1 đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn xã L, huyện S nhưng không xác định được người có lai lịch như H1 tự khai, mặt khác H mới gặp lần đầu nên không nhớ mặt.

Đối với anh Lê Văn A không biết việc H1 và H mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Vật chứng vụ án:

- A1 = 0,0215g, A2 = 1,4141g; A3 = 0,0811g cơ quan giám định hoàn trả sau giám định gồm: A1 = 0,0000g mẫu; A2 = 1,3643g mẫu, A3 = 0,0462g mẫu cùng bao gói của các mẫu A1, A2, A3 được niêm phong chung trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”, là chất cấm lưu hành và 01 cân tiểu ly màu trắng của H sử dụng vào việc phạm tội.

- Số tiền 250.000đồng là tiền Nguyễn Văn H bán ma túy mà có.

- Số tiền 5.350.000đồng, trong đó có 2.350.000đồng của H và 3.000.000đồng của bà Nguyễn Thị N - mẹ đẻ H; 01 ví giả da màu nâu đã cũ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell bên trong có lắp sim số 0878.272591 của H không liên quan đến hành vi phạm tội.

- 01 mảnh giấy trắng có ghi các số 1274, 7510, 1532, 7724, 9734 của Nguyễn Văn H1 ghi lại các số cuối của số seri các tờ tiền do H1 mua ma túy là tài liệu chứng minh tội phạm.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Bản Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 15/10/2021, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn H đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, không phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đề đã đề nghị, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo vì khi phạm tội bị cáo là người có trình độ hiểu biết pháp luật thấp và bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày: Sáng ngày 19/8/2021, bà có đưa 3.000.000đồng cho bị cáo H để nhờ H mua hộ điện thoại cho bà để bà cho cháu bà học online, nay Công an thu giữ số tiền trên, bà đề nghị trả lại cho bà.

Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định…. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/8/2021, tại sân nhà Nguyễn Văn H thuộc thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, đối tượng tự khai Nguyễn Văn H1 hỏi mua 01 gói ma túy thì được H đồng ý, H1 đưa 250.000đồng cho H, H cầm tiền và đưa cho H1 01 gói ma túy, H1 cất ma túy vào bao thuốc là và cất vào túi quần thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Thu giữ trong túi quần bên trái đang mặc của H1 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 gói ma túy có khối lượng 0,0215g loại Heroine và 01 mẩu giấy ghi các con số 1274, 7510, 1532, 7724, 9734; Thu trong túi quần của Nguyễn Văn H đang mặc số tiền 550.000đồng; Khám xét khẩn cấp, thu giữ tại nền phòng ngủ tầng hai nhà ở của H 01 lọ nhựa màu trắng, bên trong có 02 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 túi ni lon ma túy có khối lượng 1,4141gam loại Heroine; thu tại mặt thảm đệm trong phòng ngủ tầng 2 nhà ở của H 01 túi ni lon ma túy có khối lượng 0,0811gam loại Methamphetamine; 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 ví giả da màu nâu bên trong có 5.050.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell bên trong lắp sim thuê bao số 0878.272591.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

“Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm xói mòn đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu làm ăn lương thiện mà vì hám lợi mà lao vào con đường mua bán trái phép chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Việc mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện vì mục đích thu lợi nhưng Nguyễn Văn H chưa đem nguồn lợi gì cho gia đình, bản thân bị cáo Nguyễn Văn H không có việc làm, không có tài sản gì và bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

. Đối với đối tượng tự khai là Nguyễn Văn H1 là đối tượng mua ma túy của Nguyễn Văn H. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, Nguyễn Văn H1 đã bỏ trốn, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định gồm: A1 = 0,0000g mẫu; A2 = 1,3643g mẫu, A3 = 0,0462g mẫu cùng bao gói của các mẫu A1, A2, A3 được niêm phong chung trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”, là chất cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuộc lá của Nguyễn Văn H1; 01 lọ nhựa và 01 cân tiểu ly màu trắng của H sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 250.000đồng là tiền Nguyễn Văn H có được do bán ma túy mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Số tiền 5.350.000đồng, trong đó có 2.350.000đồng của H và 3.000.000đồng của bà Nguyễn Thị N; 01 ví giả da, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell bên trong có lắp sim số 0878.272591 của H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H và bà Nghị nhưng cần tạm giữ tài sản và tiền của H để đảm bảo thi hành án.

- 01 mảnh giấy trắng có ghi các số 1274, 7510, 1532, 7724, 9734 của Nguyễn Văn H1 ghi lại các số cuối của số seri các tờ tiền do H1 mua ma túy là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 250.000 đồng của Nguyễn Văn H.

Tịch thu tiêu hủy: Bao gói mẫu sau giám định A1 = 0,0000g; A2 = 1,3643g; A3 = 0,0462g; 01 cân tiểu ly màu trắng và 01 lọ nhựa của Nguyễn Văn H và 01 vỏ bao thuốc lá.

Trả lại Nguyễn Văn H: 2.350.000đồng, 01 ví giả da, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell bên trong có lắp 01 sim nhưng tạm giữ tiền và đồ vật trên để đảm bảo thi hành án.

Trả lại bà Nguyễn Thị N 3.000.000đồng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch).

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ