- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Công S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2021/HS-ST Ngày 17 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phúc An Hoành,
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông La Xuân Thủy,
2. Ông Mai Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2021/TLST-HS ngày 26/8/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST-HS ngày 06/9/2021 đối với bị cáo:
Mai Công S, tên gọi khác: Mai Trường S; sinh ngày 19 tháng 11 năm 1972 tại huyện C, tỉnh T.
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; con ông Mai Công H (đã chết) và bà Mai Thị V; anh, chị, em ruột: Có 05 anh chị em, bị cáo là thứ năm; vợ Nguyễn Thị P và có 01 con.
Tiền án: Có 02 tiền án.
- Bản án số 32/2011/HSST ngày 10/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong án phí, truy thu và tiền phạt, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/9/2017.
- Bản án số 31/2019/HS-ST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong án phí, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2020.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Quyết định số 909/QĐ-UB ngày 22/9/1999 Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T đưa người nghiện vào công trường 06 cai nghiện giai đoạn 2, kể từ ngày 08/7/1999.
- Quyết định số 601/QĐ-UB ngày 20/7/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T về việc trả người nghiện từ công trường 06 về địa phương quản lý giai đoạn 3, kể từ ngày từ 25/7/2000 đến 25/7/2003.
- Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 21/11/2018 của Công an xã N, huyện C xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.
- Bản án số 11/2007/HSST ngày 24/01/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt 15 tháng tù về tội Mua bán, sử dụng trái phép vật liệu nổ, đã chấp hành xong.
- Bản án số 26/2007/HSST ngày 27/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 20/5/2021, Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) một mình đi bộ từ nhà ở của mình ra đường rồi đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết sang huyện C, tỉnh B mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến chân đèo B (thuộc huyện C, tỉnh B), S xuống xe, đi bộ khoảng 30m thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng một mình ở cạnh đường, S hỏi và mua được 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilon màu trắng có chữ màu xanh, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine với số tiền 300.000 đồng. Mua được ma túy S cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết về nhà. Khoảng 18 giờ cùng ngày khi về đến khu vực thôn P, xã B, huyện C, tỉnh T, S xuống xe đi vào chỗ vắng người lấy gói ma túy san ra một ít để sử dụng bằng cách tiêm vào cơ thể, số ma túy còn lại S chia thành 02 gói nhỏ; trong đó 01 gói bên ngoài là nilon màu trắng có chữ màu xanh, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng; 01 gói bằng giấy trắng có chữ và số màu đen, trong cùng cả 02 gói đều chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc và ra đường đi bộ về nhà, khi vừa đi được khoảng 100m (thuộc thôn P, xã B, huyện C) thì gặp tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm vụ phát hiện, nghi S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã mời về Ủy ban nhân xã P để làm việc. Tại đây S đã tự giác giao nộp 02 gói ma túy trên và khai nhận cất giấu nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy nêu trên.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi 20 giờ 20 phút ngày 20/5/2021 tại Công an huyện Chiêm Hóa đối với Mai Công S Kết quả: (+) dương tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số 506/GĐKTHS ngày 25/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; có khối lượng là 0,125g (không phẩy một hai năm gam).
Cáo trạng số: 61/CT-VKSCH ngày 25/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; đoạn 1 điểm h Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/5/2021.
Về hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Mai Công S được niêm phong có chữ ký xác nhận và có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Mai Công S do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mai Công S Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không phải xem xét.
Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 20/5/2021 bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,125g (không phảy một hai năm gam), đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình..., nhưng bị cáo đã đi ngược lại quy định Nhà nước, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 1999 bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định về việc đưa người nghiện vào công trường 06; năm 2000 bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định về việc trả người nghiện từ công trường 06 về địa phương quản lý giai đoạn 3; năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 15 tháng tù về tội “Mua bán, sử dụng trái phép vật liệu nổ” và Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T xử phạt 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; năm 2018 bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù đã bị xét xử, xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà vẫn vi phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật. Tại bản án số 32/2011/HSST ngày 10/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/9/2017; bản án số 31/2019/HS-ST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2020, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong lượng hình xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Có bố đẻ là ông Mai Công H được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và mẹ đẻ là bà Mai Thị V được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.
Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Mai Công S xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Mai Công S do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mai Công S Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo, không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S), 01 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 20/5/2021.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S). Vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Mai Trường S, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Mai Trường S giám định ngày 21/5/2021. Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
Mai Công S (tên gọi khác: Mai Trường S) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/9/2021.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - CQCSĐT CA huyện Chiêm Hóa; - CQTHAHS CA huyện Chiêm Hóa; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Bộ phận HSNV CA huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phúc An Hoành |