vanban.org

Bản án 67/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 15/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Z;

Sửa Bản án hình sự s thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 12-11-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Tuyên ố: Bị cáo Z phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Z - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Z;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2021/HS-PT
Ngày: 15-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long

Ông Phạm Việt Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2020/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 đối với ị cáo Z về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 12-11-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Z; sinh ngày: 23/9/1973 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc.

Trú tại: tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.

Chỗ ở hiện nay: tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề nghiệp: Nhân viên lái xe Công ty M.

Trình độ học vấn: Tốt nghiệp Trung học phổ thông; dân tộc: Hán; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Z, sinh năm 1945 và à L, sinh năm: 1948; vợ: L, sinh năm: 1976; con: Z, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo ị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2020; ị cáo đang giam, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Lê Thế T, sinh năm: 1990 (chết).

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

- Ông Lê Thế H, sinh năm: 1964 (cha đẻ)

- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1964 (mẹ đẻ)

Đều trú tại: tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thế H và bà Nguyễn Thị Đ: Ông Lê Thế T, sinh năm: 1986.

Trú tại:, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Bà Phạm Thị Minh D, sinh năm: 1975.

Trú tại: thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Duy K, sinh năm: 1985.

Trú tại: tỉnh Thanh Hoá, vắng mặt.

* Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị Thảo H – Cử nhân Sư phạm tiếng Trung, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/10/2019, Z là nhân viên lái xe kiêm hậu cần của công ty M đang thi công một số hạng mục cho Công ty Cổ phần Thép H – D Q, B, Quảng Ngãi cùng H và một số người bạn tổ chức ăn tối và uống rượu tại quán X ở huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm tiếp tục rủ nhau đến quán P ở xã B, B hát karaoke. Khi đến n i, do H bị say nên Z điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Hilux G, màu ạc, biển kiểm soát 43C-081.32 chở H về khu ký túc xá của Công ty Cổ phần Thép H – D Q. Khi đến ngã tư tuyến đường D– D Q, gần cổng số 2 của Công ty Cổ phần Thép H – D Q, Z không đi vào khu ký túc xá mà rẽ qua đoạn đường Km5+600 Dốc Sỏi – D Q theo hướng Bắc – Nam để vào tiệm tạp hóa mua đồ dùng. Lúc này trời tối, có mưa, Z đã uống rượu nên ảnh hưởng đến khả năng quan sát, Z điều khiển xe ô tô va chạm với anh Lê Thế T và anh Trần Duy K đang đi ộ phía trước cùng chiều. Hậu quả, anh Lê Thế T chết, anh Trần Duy K bị thư ng nhẹ, xe ô tô ị hư hỏng.

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, C quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám phư ng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và kiểm tra nồng độ cồn trong h i thở của Z, kết quả kiểm tra nồng độ cồn là 0,881 miligam/lít khí thở.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại n i xảy ra vụ tai nạn trục đường theo phư ng Bắc – Nam, lòng đường được trải nhựa tư ng đối bằng phẳng rộng 11,95m được chia thành 3 phần; phần phía Đông rộng 0,8m; phần phía Tây (phần đường cát ồi) rộng 3,7m; phần ở giữa là phần đường dành cho xe c giới rộng 7,45m; phía Tây là khu vực nhà dân; phía Đông tiếp giáp kho phế liệu.

Tại Bản kết luận giám định số 808/KLGĐ-PC09 ngày 21/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận nguyên nhân chết của Lê Thế T là do đa thư ng tích, đa chấn thư ng, chấn thư ng sọ não, vỡ sụp xư ng hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.

Tại Bản kết luận giám định số 822/KLGĐ-PC09 ngày 02/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Chất màu nâu đỏ ghi thu trên mặt đường nhựa tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm máu O. Tử thi Lê Thế T thuộc nhóm máu O.

Kết luận giám định số 824/KLGĐ-PC09 ngày 31/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Mảnh nhựa màu đen có kích thước (7,5 x 3,5)cm thu giữ tại hiện trường (ký hiệu A1) là mảnh nhựa bị bể vỡ từ mảnh nhựa màu đen có kích thước (17 x 03)cm (ký hiệu M2) và mảnh nhựa màu đen có kích thước (7,5 x 03)cm (ký hiệu M3) thu trong quá trình khám xe ô tô iển kiểm soát 43C-081.32.

- Kết luận giám định số 825/KLGĐ-PC09 ngày 06/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô iển kiểm soát 43C-081.32 với nạn nhân Lê Thế T là góc trước ên phỉa đầu xe ô tô 43C-081.32 (làm cho áp nhựa góc trước ên phải nắp capo bị vỡ mất phần nhựa kích thước (45 x 15)cm, đèn chiếu sáng ên phải đầu xe ngay phía dưới mép nắp capo bị bể vỡ trong diện kích thước (21 x 25)cm) với vùng lưng của nạn nhân Lê Thế T (tạo ra các dấu vết bầm tụ máu nằm ngang không liên tục trong diện kích thước (13 x 1)cm và dấu vết bầm hằn tụ máu, xây xát da trong diện kích thước (7,5 x 3,5)cm ở vùng lưng của nạn nhân).

- Không đủ c sở xác định vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe ô tô iển kiểm soát 43C-081.32 với nạn nhân Lê Thế T.

Tại B n án hình sự sơ thẩm s 05/2020/HS-ST ngày 12/11/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Ngãi đã quyết định:

Căn cứ vào: điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

* Tuyên ố: Bị cáo Z phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Z 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/10/2020.

Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/11/2020 ị cáo Z kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình ày: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ già, bị cáo có giấy phép lái xe, đề nghị Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Đà N ng phát biểu:

Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo phạm tội theo Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, gia đình người bị hại đã được bồi thường thiệt hại số tiền 425 triệu đồng và có đ n đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có giấy phép lái xe được Cục Công an thành phố Tế Nam cấp. Việt Nam đã tham gia Công ước Viên 1968 về giao thông đường bộ; theo qui định tại Điều 41 của Công ước, các quốc gia ký kết phải công nhận giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép lái xe nội địa do các quốc gia ký kết Công ước cấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo Z thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nội dung của ản án s thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ s vụ án. Vì vậy, có đủ c sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 17/10/2019, tại đoạn đường Km5+600 D – D Q huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, ị cáo Z đã uống rượu, bia; trong h i thở có nồng độ cồn là 0,881 miligam/lít khí thở và điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Hilux G, màu ạc, biển kiểm soát 43C-081.32 đi theo hướng Bắc – Nam, do thiếu quan sát dẫn đến xe va chạm với anh Lê Thế T và ông Trần Duy K đang đi ộ phía trước cùng chiều. H quả, làm anh Lê Thế T chết, ông Trần Duy K bị thư ng nhẹ.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Với hậu quả gây ra nêu trên, bị cáo Z đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản án s thẩm đã qui kết là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo lái xe sau khi uống rượu, bia là vi phạm pháp luật Việt Nam. Bị cáo Z có Giấy phép lái xe quốc tế IAA số IAA1623724-FIC cấp ngày 13/11/2018, có hiệu lực đến ngày 13/11/2021 và Giấy phép lái xe nội địa số 511027197309231652, cấp lần đầu ngày 12/6/1993, ngày có hiệu lực 12/6/2011, thời hạn 10 năm, do Cục Công an thành phố T, tỉnh S n Đông, Trung Quốc cấp. Do Trung Quốc, Hoa Kỳ chưa tham gia tham gia Công ước Viên 1968 về giao thông đường bộ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 20/8/2015) nên các giấy phép lái xe trên chưa có hiệu lực tại Việt Nam.

Tuy nhiên, xét bị cáo không thuộc trường hợp chưa từng có giấy phép lái xe khi điều khiển ô tô; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo cùng với bị đ n dân sự đã ồi thường toàn ộ thiệt hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại ãi nại về phần dân sự và có đ n xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đối với người bị hại Lê Thế T cũng có một phần lỗi là đi ộ dưới lòng đường, vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Do đó, Tòa án cấp s thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là có phần nghiêm khắc; nên để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật qui định tại điểm d, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Các quyết định khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Z;

Sửa Bản án hình sự s thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 12-11-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

1. Tuyên ố: Bị cáo Z phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Z 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/10/2020.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Z không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ