- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 67/2021/HNGĐ – ST Ngày: 19-11-2021 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Kim Phụng
2. Ông Võ Đức Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 208/2021/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp 1, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
Có mặt tại phiên tòa
-Bị đơn: Ông Trần Minh T , sinh năm 1972
Địa chỉ: Ấp An Lợi, xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Vắng mặt tại phiên tòa ( có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:
Bà N và ông T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003 đến năm 2004 đăng ký kết tại UBND xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trong thời gian khoảng 02 năm.
Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung.
Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên bà N xin được ly hôn với ông T .
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Lê Như H, sinh năm 08/7/2004 và Trần Lê Như Q, sinh ngày 24/7/2010. Sau khi ly hôn bà N có nguyện vọng nuôi 02 con. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Trần Minh T vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Căn cứ bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Minh T trình bày:
Về hôn nhân: ông T và bà N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2003 đến năm 2004 mới đăng ký kết tại UBND xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu nhau trong thời gian khoảng 01 năm. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay bà N xin ly hôn thì ông T đồng ý ly hôn với bà Nhung.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Lê Như H, sinh năm 08/7/2004 và Trần Lê Như Q, sinh ngày 24/7/2010. Khi ly hôn ông T đồng ý giao 02 con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn xét xử chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị về tố tụng.
- Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N.
- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Minh T .
- Về con chung: Giao con tên Trần Lê Như H, sinh năm 08/7/2004 và Trần Lê Như Q, sinh ngày 24/7/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về pháp luật tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị giải quyết ly hôn với ông Trần minh T. Xét thấy ông T có nơi cư trú tại ấp An Lợi, xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, tuy nhiên ông T và bà N có văn bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết là đúng thẩm quyền.
. Về quan hệ hôn nhân: Đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy bà N và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 18/4/2004 của Uỷ ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Nhung, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bà N trình bày vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà N và ông T đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay.
Tại phiên tòa bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định không còn tình cảm với ông T. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận giữa bà N và ông T xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay bà N xin ly hôn thì ông T cũng đồng ý ly hôn với bà N.
Như vậy, có căn cứ để xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nhung.
. Về con chung: Bà N và ông T có 02 con tên Trần Lê Như H, sinh năm 08/7/2004 và Trần Lê Như Q, sinh ngày 24/7/2010. Khi Ly hôn bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T cũng đồng ý giao 02 con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời cháu Hoài và cháu Quỳnh cũng có nguyện vọng ở với mẹ nên Hội đồng xét xử cần giao 02 cháu cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà N phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 39 Bộ luật dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N;
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Trần Minh T .
2. Về con chung: Giao con tên Trần Lê Như H, sinh năm 08/7/2004 và Trần Lê Như Q, sinh ngày 24/7/2010 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Buộc bà Lê Thị N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 019767 ngày 14/6/2021.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Bình Phước ; - VKSND huyện Lộc Ninh; - CC.THADS huyện Lộc Ninh; - UBND xã Lộc Thuận; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quốc Tú |