vanban.org

Bản án 67/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147, 273 ộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/U TVQHngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn T…"
  • Tòa quyết gì? 147, 273 ộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 67/2021/DS-ST
Ngày: 25 / 5 / 2021
“V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công;

2. Bà Đào Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 412/2020/TLST-DS ngày 10 tháng

11 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 207/2021/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2021 và

Quyết định hoãn phiên tòa số 219/2021/QĐST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2021,

giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: số A, khóm B, thị

trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

ị đơn:

- Ông Ngô Hồng D, sinh năm 1976; địa chỉ: số B, ấp A, xã H, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; địa chỉ: số B, ấp A, xã H, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cho rằng, do quen biết nên bà T có cho ông

Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B vay 03 khoản tiền. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất, vào ngày 11/5/2018, ông D, bà B vay 5.000.000 đồng, lãi

suất 02%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Khi vay, hai bên có lập biên nhận ngày 11/5/2018. Biên nhận do bà T đánh máy trước, bà B đại diện vợ chồng ký tên vào biên nhận.

- Lần thứ hai, vào ngày 21/5/2018, ông D, bà B vay 10.000.000 đồng, lãi

suất 02%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Khi vay, hai bên có lập biên nhận ngày 21/5/2018. Biên nhận do bà T đánh máy trước. Bà B đại diện vợ chồng ký tên vào biên nhận.

- Lần thứ ba, cũng trong ngày 21/5/2018, ông D, bà B tiếp tục vay

10.000.000 đồng, lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Khi vay, hai bên có lập biên nhận ngày 21/5/2018. Biên nhận do bà T đánh máy trước. Ông D đại diện vợ chồng ký tên vào biên nhận.

Sau khi vay, ông D, bà B không trả nợ theo thỏa thuận, mặc dù, bà T đã

nhiều lần yêu cầu.

Vì vậy, bà T yêu cầu ông D, bà B trả cho bà T nợ vốn 25.000.000 đồng và

nợ lãi từ tháng 5/2018 đến tháng 10/2020 là 28 tháng, lãi suất 2%/tháng với số tiền lãi 14.000.000 đồng; tổng cộng 39.000.000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện bao gồm: Biên nhận tiền ngày 11/5/2018 có chữ ký, đề họ tên bên vay Nguyễn Thị B (bản photo); Biên nhận tiền ngày 21/5/2018 có chữ ký, đề họ tên bên vay Nguyễn Thị B (bản photo); Biên nhận tiền ngày 21/5/2018 có chữ ký, đề họ tên bên vay Ngô Hồng D (bản photo).

- Ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn

vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị

xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

Bên cạnh đó, bà T còn khai, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thời

hạn vay của từng khoản vay là 02 tháng và việc các bên có thỏa thuận lãi suất 2%/tháng. Khi đến hạn trả nợ, do ông D, bà B không trả nợ nên bà T đã yêu cầu trả nợ vào ngày 22/7/2018 và cho thời hạn trả nợ trong 01 tháng đến ngày 22/8/2018. Mục đích vay tiền của ông D, bà B phục vụ sinh hoạt chung của ông D, bà B. Thời hạn tính lãi 28 tháng mà bà T yêu cầu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, được tính từ 01/6/2018 đến 30/9/2020.

Bà T thay đổi, xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông D, bà B trả nợ

vốn 25.000.000 đồng và nợ lãi trong khoảng thời gian từ 01/6/2018 đến ngày 30/9/2020 với mức lãi suất do pháp luật quy định và thời điểm bắt đầu tính lãi theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã

thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71,

234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B đã được

triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án

ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Ông D, bà B vay của bà T 03 lần với tổng số

tiền 25.000.000 đồng, có làm biên nhận và trong biên nhận nợ không thỏa thuận

lãi suất, không thỏa thuận thời gian vay. Sau đó, ông D, bà B không thực hiện

nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, bà T yêu cầu ông D, bà B trả nợ vốn 25.000.000 đồng

và nợ lãi 14.000.000 đồng trong 28 tháng (từ tháng 5/2018 đến tháng 10/2020)

với mức lãi suất 2%/tháng.

Ông D, bà B đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt trong suốt quá trình

giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa, bà T yêu cầu tính lãi từ ngày 23/8/2018 đến ngày 30/9/2020

với mức lãi suất theo quy định pháp luật.

Xét thấy, căn cứ bà T khởi kiện là biên nhận nợ ngày 11/5/2018 và 02 biên

nhận nợ cùng ngày 21/5/2018 thể hiện ông D, bà B vay của bà T tổng cộng

25.000.000 đồng, có chữ ký của ông D, bà B. Cho nên, việc bà T khởi kiện yêu

cầu ông D, bà B trả nợ vốn 25.000.000 đồng là có căn cứ.

Về lãi suất, do ông D, bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T yêu cầu tính

lãi suất là phù hợp với Điều 469 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, mức lãi suất được áp

dụng theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là 10%/năm.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468,

Điều 469 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông D,

bà B; buộc ông D, bà B trả cho bà T nợ vốn 25.000.000 đồng và tính lãi suất

10%/năm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu

ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B trả nợ vay. Ông D, bà B đang cư trú trên địa

bàn huyện C nên yêu cầu kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1

Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, ông D,

bà B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D, bà B theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Bà Nguyễn Thị T khai, ông D, bà B vay của bà T 03 khoản vay gồm:

5.000.000 đồng vào ngày 11/5/2018; 10.000.000 đồng vào ngày 21/5/2018 và 10.000.000 đồng vào ngày 21/5/2018, với thời hạn vay 02 tháng kể từ ngày vay, lãi suất 2%/tháng. Tổng số tiền mà ông D, bà B vay của bà T là 25.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, ông D, bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, mặc dù, bà T đã nhiều lần yêu cầu.

Tuy nhiên, biên nhận nợ ngày 11/5/2018 và 02 biên nhận nợ ngày

21/5/2018 không thể hiện thời hạn vay, lãi suất vay như bà T trình bày. Đồng thời, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh 03 khoản vay đang tranh chấp là khoản vay có thỏa thuận thời hạn, có thỏa thuận lãi suất.

Vì vậy, có căn cứ xác định ông D, bà B vay của bà T 03 lần với tổng số

tiền 25.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn và chưa thanh toán nợ.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà T yêu cầu ông D, bà B trả cho bà T

nợ vốn 25.000.000 đồng và nợ lãi trong 28 tháng (từ tháng 5/2018 đến tháng 10/2020), lãi suất 2%/tháng với số tiền lãi 14.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà T thay đổi, xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông

D, bà B trả nợ vốn 25.000.000 đồng và nợ lãi trong khoảng thời gian từ 01/6/2018 đến ngày 30/9/2020 với mức lãi suất do pháp luật quy định và thời điểm bắt đầu tính lãi theo quy định pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với hợp đồng vay

không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản vào bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho bên vay biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Đồng thời, tại phiên tòa, bà T khai lần đầu yêu cầu trả nợ vào ngày

22/7/2018 và cho ông D, bà B trả nợ trong hạn 01 tháng đến ngày 22/8/2018.

Do đây là khoản vay không thỏa thuận lãi suất, không thời hạn nên ông D,

bà B phải trả tiền lãi kể từ ngày kết thúc thời gian hợp lý mà bà T yêu cầu ông D, bà B trả nợ theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, tiền lãi mà bên vay phải thanh toán từ ngày đến hạn thanh toán 23/8/2018 cho đến ngày 30/9/2020 là:

25.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 25,3 tháng = 5.268.725 đồng.

Như vậy, tổng số nợ vốn, lãi mà bên vay còn nợ bên cho vay là

30.268.725 đồng.

Do ông D, bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà T khởi kiện yêu cầu ông

D, bà B trả số nợ còn lại và yêu cầu trả lãi là phù hợp với quy định tại các Điều

466, 468, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, buộc ông D, bà B có nghĩa vụ

trả cho bà T nợ vay 30.268.725 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông D, bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh

toán cho bà T là 1.513.436 đồng.

Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho bà T số tiền tạm

ứng án phí 975.000 đồng mà bà T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 469 ộ luật Dân sự năm 2015; các Điều

147, 273 ộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/U TVQHngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Buộc ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn

Thị T số nợ vay 30.268.725 (ba mươi triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, bảy

trăm hai mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của

số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B phải chịu 1.513.436 (một triệu, năm

trăm mười ba nghìn, bốn trăm ba mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà

Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 975.000 (chín trăm bảy mươi lăm

nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2016/0013871

ngày 10/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị T có quyền

kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Ngô Hồng D, bà Nguyễn Thị B được

tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ