vanban.org

Bản án 67/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc V 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang ngày 20/02/2020. 2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2020/HSST
Ngày: 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Ông Mai Hồ Hải Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2020/TLST- HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Quốc V; Tên gọi khác: Ba Đầu; Sinh ngày: 08/8/1998 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số 30 Đường T, Tổ 05 phường M, quận S, Thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Y và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 20/02/2020 có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị D, Sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Tổ 05 phường M, quận S, Thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Đinh Quang H, Sinh năm: 1999. Nơi cư trú: Tổ 95 phường N, quận S, Thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 18 giờ 30 phút ngày 20/02/2020, tại khu vực ngã tư đường Chu Huy Mân - Lý Nhật Quang, (phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng), lực lượng tuần tra Đồn Biên phòng Sơn Trà bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ni lông kích thước (03x06)cm, bên trong có chứa tinh thể rắn, màu trắng tại túi quần phía trước bên phải của bị cáo đang mặc. Bị cáo khai nhận đây là ma túy tổng hợp dạng đá mua về để sử dụng.

Vật chứng tạm giữ của bị cáo Lê Quốc V:

- 01 túi ni lông màu trắng, trong kích thước 03x06cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong và ký hiệu là M1)

- 01 điện thoại di động màu đỏ, đen số IMEL 354083095554901 gắn hai sim 0934778676 và 0934346650.

- 01 điện thoại di động màu vàng, số IMEL 355181014588478 gắn hai sim 0935172524 và 0775586832.

- 01 xe mô tô Wave màu xanh, BKS: 43K7- 2919;

- 600.000 đồng tiền Việt Nam.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị cáo không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.

Tại Kết luận giám định số 56 ngày 24/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP. Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể mẫu M1: 1,561 gam.

Qua điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên khoảng 18 giờ ngày 20/02/2020, bị cáo sử dụng số điện thoại 0934 778 676 gọi vào số 0935 452 680 của đối tượng tên Ý (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy với giá 800.000 đồng thì Ý đồng ý và hẹn đến đường An Hải 21 (phường An Hải Bắc, Q. Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) để nhận ma túy. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS: 43K7-2919 đến khu vực Công viên trên đường An Hải 21 thì gặp Ý. Tại đây, bị cáo đưa cho Ý 800.000 đồng rồi Ý đưa cho bị cáo 01 gói ma túy. Bị cáo cất gói ma túy trên vào túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe tìm chỗ sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 61/2020/CT- VKS ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Quốc V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS xử phạt Lê Quốc V từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù.

Do không xác minh được về tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quốc V.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong hoàn trả sau khi giám định số 56/GĐ-MT ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, 01 sim điện thoại 0934778676 do liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ, đen số IMEL 354083095554901 của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

Tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động màu vàng, số IMEL 355181014588478 gắn hai sim điện thoại 0935172524, 0775586832 và 01 sim 0934346650, số tiền 600.000đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 xe mô tô Wave màu xanh, BKS: 43K7-2919, qua xác minh chiếc xe này do bà Đoàn Thị X(Trú: Hòa Thọ, Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương không có ai tên Đoàn Thị X. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo Lê Quốc V thừa nhận hành vi phạm tội của mình là tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị D thừa nhận có mua 01 xe mô tô Wave màu xanh, BKS: 43K7-2919 đứng tên bà Đoàn Thị X, việc mua bán xe không có giấy tờ gì cả, bà có cho bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi lại. Việc Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ và xử lý sau thì bà thống nhất, không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc V đã khai nhận vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/02/2020, tại khu vực ngã tư đường Chu Huy Mân - Lý Nhật Quang, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,561 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Biên phòng phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận bị cáo Lê Quốc V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, giết người ... làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, phát thanh, truyền hình ... Các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng đưa ra xét xử nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này nhằm răn đe phòng ngừa. Bị cáo Lê Quốc V nhận thức rõ được những tác hại đó nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, ham chơi đua đòi, xem thường pháp luật và để thỏa mãn nhu cầu hút chích của bản thân nên bị cáo đã thực hiện việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý không những xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt do bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô Wave màu xanh, BKS: 43K7-2919, qua xác minh chiếc xe này do bà Đoàn Thị X(Trú: Hòa Thọ, Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương không có ai tên Đoàn Thị X. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

- Tịch thu, tiêu hủy: một phong bì niêm phong hoàn trả sau khi giám định số 56/GĐ-MT ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong có chứa số ma túy còn lại sau khi giám định hoàn trả và bao gói mẫu và 01 sim điện thoại 0934778676.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ, đen số IMEL 354083095554901 của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với một điện thoại di động màu vàng, số IMEL 355181014588478 gắn hai sim điện thoại 0935172524, 0775586832 và 01 sim điện thoại 0934346650 thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của bị cáo thấy không liên quan dến vụ án nên trả cho bị cáo nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Do không xác minh được về tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quốc V theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2020.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Quốc V, Công an quận Sơn Trà đã ra Quyết định xử lý hành chính là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Án phí HSST: Bị cáo Lê Quốc V phải chịu 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc V 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang ngày 20/02/2020.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm phong hoàn trả sau khi giám định số 56/GĐ-MT ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong có chứa số ma túy còn lại sau khi giám định hoàn trả và bao gói mẫu và 01 sim điện thoại 0934778676.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ, đen số IMEL 354083095554901.

- Trả cho bị cáo Lê Quốc V một điện thoại di động màu vàng, số IMEL 355181014588478 gắn hai sim điện thoại 0935172524, 0775586832 và 01 sim điện thoại 0934346650.

- Trả cho bị cáo Lê Quốc V số tiền 600.000đồng nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2020.

3/ Án phí HSST: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí HSST bị cáo Lê Quốc V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho những người tham gia tố tụng có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ