- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Hồng - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HSST Ngày 28 tháng 7 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒ A Á N NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu; Bà Vương Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Viển – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Tòa án nhân dân huyện Đ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị H – sinh năm 1968, tại: Đồng Nai
Nơi cư trú: 363 khu dân cư 1, ấp 8, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Tin Lành; con ông Lê Văn A (đã chết) và bà Trần Thị B (đã chết); có chồng Võ Văn T – sinh năm 1967 và 03 con (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 16/3/2020, tại ngoại ngày 19/3/2020 đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ đầu tháng 3/2020, Lê Thị H bắt đầu thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức ghi số đề cho các con bạc tại khu vực xã Gia Canh. Cách thức đánh bạc bằng hình thức chơi số đề của H như sau: Hàng ngày từ lúc 09 giờ đến 16 giờ, khi các con bạc có nhu cầu ghi số đề thì sẽ đến nhà H ghi số đánh và số tiền để đánh đề; H dùng bút bi ghi số đề và số tiền đánh đề vào 01 cùi giấy kích thước 3cm x 7cm có lót giấy than để lưu lại 01 bản, H đưa bản chính cho các con bạc để làm căn cứ đối chiếu. Vào cuối ngày, H tổng hợp các phơi đề (bản lưu) vào cuốn tập học sinh và chờ kết quả xổ số mở thưởng của các Công ty xổ số kiến thiết trong ngày để tính thắng thua. Sau mỗi ngày, H đều hủy bỏ các phơi đề (bản lưu) và phơi đề tổng hợp để phi tang.
Cách thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua quy ước như sau: đánh số đầu hoặc số đuôi 02 con số, bao lô 02 số (số lá) đặt 01 ăn 70 lần; bao lô 03 (xỉu chủ) đặt 01 ăn 600 lần; số đá đặt 01 ăn 700 lần. Nếu số con bạc đã mua trùng với kết quả xổ số thì con bạc thắng số tiền theo tỷ lệ đã quy ước; ngược lại, con bạc thua thì mất số tiền đã mua. Sau khi có kết quả xổ số thì H sẽ đối chiếu và tính thắng thua với các con bạc, người nào trúng đề thì vào sáng ngày hôm sau đến nhà H để lấy tiền.
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, Lê Thị H đang tổng hợp phơi đề tại nhà thuộc ấp 8, xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Gia Canh bắt quả tang.
Tang vật thu giữ: 01 cùi phơi đề, 01 tờ giấy than (kích thước 03cm x 07cm); 01 cây viết bi; 01 quyển tập học sinh (kích thước 10cm x 20cm) bên trong có 01 bản tổng hợp phơi đề đài thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/3/2020; 01 vỏ hộp bánh bằng kim loại bên trong chứa số tiền là 750.000 đồng; thu giữ trong người Lê Thị H số tiền là 3.500.000 đồng.
Căn cứ bản chiết tính phơi đề ngày 16/3/2020 của H đối với kết quả xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh và căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010 ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xác định tổng số tiền Lê Thị H ghi số đề ngày 16/3/2020 là 8.068.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS.ĐQ ngày 03/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng hình phạt tiền và xử phạt bị cáo từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ.
2/ Bị cáo Lê Thị H thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã nêu trong cáo trạng thì bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác tuy nhiên, bị cáo đang bị tiểu đường và hở van tim nên xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị H đã khai nhận tội; lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, tại ấp 8, xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Lê Thị H đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức số đề với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là: 8.068.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị H đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy: Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo Lê Thị H biết rõ điều này nhưng vì muốn tư lợi nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Việc đưa ra xét xử và tuyên phạt bị cáo một hình phạt tương xứng để trừng phạt bị cáo vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Lê Thị H không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị H là nữ, học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đang mắc bệnh tiểu đường, đã tích cực nộp số tiền phạm tội mà có nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:
- Số tiền 8.068.000đ là tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc và số tiền thu lợi bất chính 1.000.000đ; tổng cộng 9.068.000đ nên phải bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Cơ quan CSĐT đã thu giữ của bị cáo H số tiền 4.250.000đ và bị cáo đã tự nộp thêm 1.000.000đ; tổng cộng 5.250.000đ nên buộc bị cáo phải nộp thêm 3.818.000đ.
- Đối với 01 cùi giấy ghi số đề, 01 tờ giấy than (kích thước 03x07cm); 01 quyển tập học sinh (kích thước 10x20cm) có ghi số đề: là tài liệu chứng minh việc phạm tội nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
- 01 cây viết bi, 01 hộp sắt: Là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- Các đối tượng mua số đề chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Bị cáo Lê Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội: “Đánh bạc”.
3/ Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Thị H 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
4/ Về biện pháp tư pháp:
- Buộc bị cáo nộp bổ sung số tiền 3.818.000đ do phạm tội mà có.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.250. 000đ (theo biên lai thu tiền số 0002795 ngày 03/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng sắt, 01 cây viết bi (do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý theo biên bản giao nhận ngày 03/7/2020).
5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: TAND tỉnh Đồng Nai. VKSND tỉnh Đồng Nai. VKSND huyện Đ. Công an huyện Đ. Chi cục THA huyện Đ. Bị cáo. Lưu hồ sơ, VP. | Lê Xuân Hòa |