- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn G - Lường Văn K - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn G và Lường Văn Khánh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HS-ST Ngày 20/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Nguyên Hồng
Ông Hà Văn Sơ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2020/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Lò V n G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 25/8/1999, tại: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Lò Văn P và bà Hà Thị M. Bị cáo chưa c v , con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2020. C mặt.
2. Lư ng V n K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/10/1990, tại: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Lường Văn L và bà Tòng Thị C. Bị cáo chưa c v , con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2020. C mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lường Văn L, sinh năm 1960 và bà Tòng Thị C, sinh năm: 1962. Trú tại: Bản Lù, xã Chiềng L, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. C mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 17/4/2020, T công tác Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phối h p với t công tác Đồn biên phòng Phiêng P n làm nhiệm vụ tại khu vực bản Kết Hay, xã Phiêng P n, huyện Mai Sơn phát hiện Lò Văn G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 26K1 - 167.20 chở phía sau Lường Văn K c biểu hiện nghi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành dừng xe kiểm tra, G liền thả từ lòng bàn tay trái 01 g i nilon màu vàng (bên trong chứa 02 g i nilon màu xanh, trong m i g i đều chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine và 01 g i nilon màu hồng trong chứa 01 viên nén màu hồng, trên một mặt c ký hiệu WY nghi là ma túy t ng h p) xuống lề đường. G và K khai 02 g i chất bột màu trắng trên là Heroine, 01 viên nén màu hồng là Hồng phiến c a G và K, do G gọi điện r Khánh đi mua c a Cứ A V, sinh năm 1970, trú tại bản Lọng H m, xã Phiêng C m, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, mục đích để sử dụng với số tiền là 800.000đ. Trong đ G và Khánh g p m i người 400.000đ.
T công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn G và Lường Văn K, thu giữ niêm phong vật chứng nêu trên. Ngoài ra còn tạm giữ c a G và K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S PLUS màu hồng k m 01 sim điện thoại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh k m 01 sim điện thoại (tại túi qu n phía trước bên phải G đang mặc); 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL 104 màu đen k m 02 sim điện thoại (tại lòng bàn tay trái K); 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 26K1 - 167.20.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với người, ch ở, đồ vật c a Cứ A V, kết quả: Không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Ngày 18/4/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn đã phối h p với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng b c mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lư ng vật chứng thu giữ c a Lò Văn G và Lường Văn K. Tại bản kết luận giám định số 639 ngày 22/4/2020 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã kết luận : ng khối lượng ma t y thu gi là 0,9 gam, loại eroine và 0,15 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 28/7/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn G và Lường Văn Khánh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017.
Sau khi kết thúc ph n thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lò Văn G và Lường Văn Khánh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
Xử phạt bị cáo Lò Văn G từ 20 đến 24 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lường Văn Khánh từ 18 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu h y: v phong bì niêm phong vật chứng ban đ u, các mảnh nilon màu vàng, màu xanh, màu hồng g i ma túy ban đ u; 0,61gam Heroine, 0,06 gam Methamphetamine.
Trả lại cho gia đình Lường Văn Khánh 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha sirius biển kiểm soát 26K1-167.20, số khung HY045449, số máy 193801 (đại diện là ông Lường Văn L).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh k m 01 sim thu giữ c a bị cáo G, 01 điện thoại di động hiệu Masstel 104 màu đen k m 02 sim thu giữ c a bị cáo Khánh.
Trả lại cho bị cáo Khánh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng k m 01 sim.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm m i bị cáo là 200.000VNĐ.
Tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Người c quyền l i và nghĩa vụ liên quan ông Lường Văn L trình bày: xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 26K1-167.02, đăng ký xe tên Lường Văn Khánh là xe máy c a gia đình. Nguồn tiền mua xe là c a v chồng ông bà tích c p c đư c để làm phương tiện đi lại trong gia đình. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy v chồng ông bà không biết. Ông đề nghị đư c xin lại chiếc xe trên về làm phương tiện đi lại trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét hành vi c a các bị cáo thì thấy r ng: Ngày 17/4/2020, tại bản Kết Hay, xã Phiêng P n, huyện Mai Sơn, Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang Lò Văn G và Lường Văn K đang tàng trữ 0,9 gam Heroine và 0,15 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội c a các bị cáo tại phiên tòa phù h p với các chứng cứ c trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 40 phút ngày 17/4/2020, biên bản khám xét khẩn cấp hồi 10 giờ 40 phút ngày 25/02/2020 đối với Lò Văn G; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lư ng, trích mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 18/4/2020, Kết luận giám định về ma túy số 639 ngày 22/4/2020 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản h i cung đối với các bị cáo.... phù h p với các chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không c gì mâu thuẫn.
Như vậy đã c đ y đ cơ sở kết luận: Các bị cáo Lò Văn G, Lường Văn Khánh tàng trữ t ng số 1,05gam ma túy, trong đ c : 0,9 gam Heroine và 0,15 gam Methamphetamine đ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017.
Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng c a tội phạm, Hội đồng xét xử thấy r ng: hành vi phạm tội c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi c a bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền c a Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy r ng: Các bị cáo G và Khánh đều là người c đ y đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, dân sự. Biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo đã phạm tội với l i cố ý. Các bị cáo không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay các bị cáo đều c thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Đây là tình tiết giảm nhẹ đư c quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) sẽ đư c Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét vai trò c a từng bị cáo trong vụ án, HĐXX thấy r ng: Lò Văn G là người ch mưu, khởi xướng r K cùng g p tiền mua ma túy để sử dụng. Là người trực tiếp điểu khiển xe chở K đi tìm mua ma túy và cất giữ ma túy sau khi mua đư c, giữ vai trò chính trong vụ án. Lường Văn K sau khi đư c G r đi mua ma túy về sử dụng đã tiếp nhận ý chí và thực hành tích cực, là đồng phạm trong vụ án.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường h p rất nghiêm trọng nên c n áp dụng hình phạt tù giam cách ly các bị cáo ra kh i đời sống cộng đồng một thời gian nhất định tương xứng với tính chất mức độ nghiêm trọng c a hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người c ích cho xã hội và c tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt b sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, không c tài sản riêng c giá trị. Nên không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì xác định như sau:
Đối với v bao bì niêm phong tang vật ban đ u, số Heroin, Methamphetamine còn lại sau khi trích rút giám định là chất độc dư c nhà nước cấm lưu hành, những vật không còn giá trị sử dụng nên c n tịch thu tiêu h y.
Đối với 01 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ c a bị cáo G và 01 điện thoại di động hiệu Masstel 104 màu đen thu giữ c a bị cáo Khánh là phương tiện các bị cáo liên lạc r nhau đi mua ma túy. C n tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus màu hồng thu giữ c a bị cáo G không liên quan đến việc phạm tội c n trả lại cho bị cáo G.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha sirius BKS 26K1-167.20 là tài sản c a gia đình bị cáo Lường Văn Khánh. Các thành viên trong hộ gia đình ông bố mẹ c a bị cáo ông Lường Văn L và bà Tòng Thị C, bị cáo Lường Văn Khánh. V chồng ông L không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên c n trả lại cho gia đình ông L.
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không c người nào c ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Về các vấn đề khác:
Đối với Cứ A V (sinh năm 1970, trú tại bản Lọng H m, xã Phiêng C m, huyện Mai Sơn theo lời khai Lò Văn G và Lường Văn K là người đã bán ma túy cho G và K vào ngày 17/4/2020, việc trao đ i mua bán ma túy không c ai biết, chứng kiến). Quá trình điều tra V không c mặt ở nơi cư trú, gia đình và chính quyền địa phương không biết V đang ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ. Khi c đ căn cứ sẽ xử lý theo quy định c a pháp luật.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lò Văn G và Lường Văn Khánh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
Xử phạt bị cáo Lò Văn G 20 (hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù đư c tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2020).
Xử phạt bị cáo Lường Văn Khánh 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù đư c tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2020).
Không áp dụng hình phạt b sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu h y: v phong bì niêm phong vật chứng ban đ u, các mảnh nilon màu vàng, màu xanh, màu hồng g i ma túy ban đ u; 0,61gam Heroine, 0,06 gam Methamphetamine.
Trả lại cho gia đình ông Lường Văn L 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha sirius biển kiểm soát 26K1-167.20, số khung HY045449, số máy 193801 (đại diện là ông Lường Văn L).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu xanh k m 01 sim thu giữ c a bị cáo G, 01 điện thoại di động hiệu Masstel 104 màu đen k m 02 sim thu giữ c a bị cáo Khánh.
Trả lại cho bị cáo Khánh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu hồng k m 01 sim
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm m i bị cáo là 200.000VNĐ.
Báo cho bị cáo, người c quyền l i nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người CQLNVLQ ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |