- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Lai - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2020/HS-PT Ngày: 19-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
- Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Sang;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 n m 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 57/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 4 n m 2020 đối với bị cáo Ngô V n L. Do có kháng cáo của bị cáo Ngô V n L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Ngô V n L sinh n m 1966, t i tỉnh Bình Phước; hộ khẩu thường trú: Tổ 7, khu phố P, phường A, thị xã B tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô V n V (chết) và bà Đỗ Thị D (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 01/8/1985 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” đã được xóa án tích. Ngày 22/9/1989 bị Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Phước xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” đã được xóa án tích. Ngày 27/02/2006 bị Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Phước xử ph t 12 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Đánh b c” đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 20/11/2019 cho đến nay bị cáo có mặt t i phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn L: Ông Lê Minh T – Luật sư V n phòng Luật sư Minh D thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước có mặt.
Ngoài ra trong hồ sơ v án còn có bị h i và những người có quyền lợi nghĩa v liên quan nhưng không có kháng cáo không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 04/6/2019, Ngô V n L thấy ông Phan V n H, sinh n m 1936 làm nghề lái xe ôm ngã ba T thuộc huyện B, tỉnh Bình Dương trên cổ ông H có đeo 01 (một) sợi dây chuyền vàng ngón áp út tay trái đeo 01 chiếc nhẫn vàng nên L gọi điện tho i cho Dư Thanh T1 rủ T1 đi cướp tài sản của ông H, T1 đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô hiệu Vision biển số 61F1-403.04 đi từ thị trấn P, huyện P đến ngã ba T, huyện B gặp L. L kêu T1 điều khiển xe đi trước tìm chỗ vắng người đứng chờ L. L đi đến chỗ ông H đứng chờ khách, L nói dối với ông H vợ L đang đau b ng đẻ nên nhờ ông H ch về nhà gần ngã ba B, xã P, huyện P với giá 100.000 đồng, ông H đồng ý. T1 điều khiển xe đến gần cầu Đ, xã P thì dừng l i bên đường đất đỏ bên trái chờ L, thấy ông H ch L đi gần đến chỗ T1 thì T1 điều khiển xe ch y vào đường đất đỏ trong lô cao su của Tr i giam P thuộc ấp 1A, xã P, huyện P đứng chờ L. L thấy T1 điều khiển xe ch y trước nên nói ông H điều khiển xe ch y theo hướng của T1. T1 ch y đến đo n đường vắng trong lô cao su thì dừng l i, khi ông H ch y đến chỗ T1 thì L kêu ông H dừng xe. Lúc này, khoảng 11 giờ cùng ngày, L bước xuống xe rồi dùng tay giật sợi dây chuyền vàng trên cổ ông H làm sợi dây chuyền bị đứt, ông H giật l i sợi dây chuyền thì T1 đi đến giật sợi dây chuyền trên tay của ông H và lấy 01 chiếc điện tho i di động hiệu Citycall trong túi áo ngực của ông H. T1 thấy ông H có đeo chiếc nhẫn vàng trên tay trái nên T1 tiếp t c dùng tay cào, dùng miệng cắn vào ngón tay của ông H để lấy chiếc nhẫn nhưng không được. Lúc này, T1 và L thấy ông Nguyễn Hồng P điều khiển xe mô tô ch y đến nên T1 điều khiển xe ch L bỏ ch y trên đường đi T1 đưa cho L 01 sợi dây chuyền vàng và 01 điện tho i di động hiệu Citycall. Khi đến nghĩa trang cũ thuộc tổ 6, ấp V, xã V, huyện P thì L ném chiếc điện tho i của ông H vào lề đường. Sau đó T1 tiếp t c ch L đến Bưu điện huyện P để L đón xe khách đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước chờ T1 cùng đi bán sợi dây chuyền vàng. T1 điều khiển xe trả cho bà Nguyễn Thị N khu phố 3, thị trấn P, huyện P rồi đón xe khách đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước gặp L t i Siêu thị Coopmart Đ. L và T1 đem sợi dây chuyền bán t i tiệm vàng Kim H do ông Dương Minh T2 làm chủ được số tiền 15.000.000 đồng, L đưa cho T1 số tiền 7.500.000 đồng, T1 tiêu xài cá nhân hết 1.500.000 đồng và đưa cho bà Nguyễn Thị N số tiền 6.000.000 đồng nói là tiền T1 đi làm thuê mà có.
Sau khi sự việc xảy ra, ông H trình báo Công an xã P để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra xác minh Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã mời Dư Thanh T1 làm việc. T1 đã thừa nhận hành vi ph m tội của mình. Đối với Ngô V n L, sau khi thực hiện hành vi ph m tội đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Bản kết luận định giá tài sản ngày 18/7/2019 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự huyện P kết luận: 01 dây chuyền vàng 9999 có trọng lượng 4.5 chỉ có giá 16.560.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 23K khối lượng 18.7552g (5 chỉ) có giá 19.700.000 đồng; 01 điện tho i di động hiệu Citycall có giá 250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 36.510.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ: 01 chiếc nhẫn bằng vàng có trọng lượng 05 chỉ; 01 điện tho i di động hiệu Citycall của ông Phan V n H; số tiền còn l i 4.500.000 đồng bà N tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện P. Ngày 30/9/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả l i cho ông H số tiền 4.500.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 61F1 - 403.04 do Dư Thanh T1 mượn của bà Nguyễn Thị N, bà N không biết T1 sử d ng vào việc ph m tội nên trả l i cho bà N; 01 nón bảo hiểm màu đỏ có lưỡi trai màu đen; 01 nón bảo hiểm phía trước có chữ MiLan, phía sau có chữ Monster; 01 điện tho i di động hiệu Samsung J7 pro có số Imei: Khe 1: 353317099298656, khe 2: 353318099298654 của bà Nguyễn Thị N; 01 điện tho i di động Nokia 105 có gắn sim số điện tho i: 0937704171 của Dư Thanh T1; 01 chứng minh nhân dân số 285639582 của Dư Thanh T1; 01 áo sơ mi ngắn tay màu nâu đen có hình tròn màu trắng; 01 quần lửng có 06 túi màu xanh đậm; 01 áo sơ mi tay dài màu xám; 01 quần đùi màu đen; 01 quần tây màu đen; 01 áo sơ mi tay ngắn màu tím có hình lá màu vàng; 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ Aba của Dư Thanh T1; 01 đo n video được thu trích xuất t i cửa hàng Kim H đã được chuyển vào 01 USB thống kê trong hồ sơ v án.
Về dân sự: Bị h i Phan V n H yêu cầu bị cáo Ngô V n L và Dư Thanh T1 liên đới bồi thường đủ số tiền 15.500.000 đồng đã tuyên trong bản án số 76/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của TAND huyện P, tỉnh Bình Dương. Ngày 01/12/2019, ông Dư V n A là cha ruột của Dư Thanh T1 đã bồi thường cho bị h i Phan V n H số tiền 11.500.000 đồng. Ông Dư V n A yêu cầu bị cáo Ngô V n L có trách nhiệm trả l i số tiền trên.
Đối với 01 sợi dây chuyền vàng do Ngô V n L, Dư Thanh T1 bán t i tiệm vàng Kim H do ông Dương Minh T2 làm chủ, ông T2 đem nung chảy chế tác sản phẩm mới nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P không thu giữ được.
Đối với hành vi ph m tội của Dư Thanh T1: T i Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P đã tuyên ph t Dư Thanh T1 08 (tám) n m tù về tội “Cướp tài sản” đồng thời vật chứng đã được xử lý trong v án.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô V n L ph m tội “Cướp tài sản”.
Áp d ng điểm e khoản 2 Điều 168 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017);
Xử ph t bị cáo Ngô V n L 09 (chín) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/11/2019.
Ngày 06/3/2020, bị cáo Ngô V n L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.
T i phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
T i phiên tòa đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Ngô V n L đúng theo thời h n luật định. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô V n L hoàn toàn nhận tội Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là có c n cứ đúng người đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu bị cáo bị bắt truy nã nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình ph t đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo thống nhất với cáo tr ng và Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm về tội danh đối với bị cáo. Tuy nhiên về phần hình ph t người bào chữa mong Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét về hoàn cảnh gia đình nhân thân của bị cáo như bị cáo có hoàn cảnh khó kh n tuổi tác bị cáo cũng đã cao bị cáo thành khẩn khai báo bị cáo được xóa án tích (chỉ xem xét nhân thân) mức hình ph t 09 n m của Tòa án cấp sơ thẩm là quá nặng đối với bị cáo. Do đó mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo vì bị cáo tuổi đã lớn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do nhìn thấy trên người ông Phan V n H có tài sản nên Ngô V n L và Dư Thanh T1 bàn b c cướp tài sản của ông H. Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 04/6/2019, t i đo n đường vắng trong lô cao su gần Tr i giam P thuộc ấp 1A xã P huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ngô V n L có hành vi dùng tay giật sợi dây chuyền vàng trên cổ ông Phan V n H (sinh n m 1936) làm sợi dây chuyền bị đứt ông H giật l i sợi dây chuyền thì T1 đến giật sợi dây chuyền trên tay của ông H và lấy 01 chiếc điện tho i hiệu Citycall trong túi áo trên ngực của ông H; T1 dùng tay cào cấu dùng miệng cắn để lấy chiếc nhẫn vàng mà ông H đeo ngón tay áp út bên trái của bị h i nhưng không được. Sau đó T1 điều khiển xe ch L bỏ ch y và bán tài sản lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tổng giá trị tài sản là 36.510.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản ngày 18/7/2019 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự huyện P).
Dư Thanh T1 và Ngô V n L đã có hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc chiếm đo t tài sản của bị h i nên hành vi của Dư Thanh T1 và Ngô V n L cấu thành tội “Cướp tài sản”. Các bị cáo thực hiện hành vi ph m tội đối với người già yếu (ông Phan V n H đã trên 70 tuổi). Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Ngô V n L về tội “Cướp tài sản” theo quy định t i điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Ngô V n L về việc xin giảm nhẹ hình ph t: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Ngô V n L thực hiện hành vi ph m tội với vai trò chủ mưu và là người thực hành. Sau khi ph m tội bị cáo đã bỏ trốn nên ngày 02/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định truy nã số 07 đối với bị cáo. Đến ngày 20/11/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra mới bắt được bị cáo theo Quyết định truy nã nói trên. Như vậy sau khi ph m tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó kh n cho công tác điều tra truy tố xét xử. Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu nhiều lần vi ph m pháp luật: Ngày 01/8/1985 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” đã được xóa án tích. Ngày 22/9/1989 bị Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Phước xử ph t 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” đã được xóa án tích. Ngày 27/02/2006 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử ph t 12 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Đánh b c” đã được xóa án tích. Bị cáo đã nhiều lần bị xử ph t về hành vi vi ph m pháp luật nhưng vẫn không hối cải tự cải t o bản thân để làm người có ích cho gia đình xã hội mà vẫn thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý.
Trong lần ph m tội này Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình ph t đối với bị cáo là 09 (chín) n m tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định t i điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là phù hợp với vai trò tính chất và hành vi ph m tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc giảm nhẹ hình ph t đối với bị cáo là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ngô V n L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô V n L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương.
Áp d ng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017)
Xử ph t bị cáo Ngô V n L 09 (chín) n m tù về tội “Cướp tài sản”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 20/11/2019.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Ngô V n L phải nộp 200.000 đồng.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND huyện P; 2 - VKSND huyện P; 1 - Chi c c THADS huyện P; 1 - Công an huyện P; ; 2 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo; - Tổ HCTP; 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huỳnh Đức |