vanban.org

Bản án 67/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Dương Quốc Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Dương Quốc Ngh 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Q N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 67/2019/HS-ST
Ngày: 27/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

2/Ông Ngô Rạng Đông

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 602019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Dƣơng Quốc Ng, sinh năm: 1984, tại: A M, Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp H Đ, xã Đ H, huyện A M, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Quốc Kh và bà Nguyễn Thị Ngọc M; Vợ: Phạm Thị O; con có 02 người: lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 06/3/2019. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 05/3/2019 Dương Quốc Ng đang ở phòng trọ tại nhà trọ Th Đ thuộc ấp S L, xã D T, huyện P Q thì có người tên Đ (không rõ nhân thân) đến chơi và kêu Ng hùn tiền mua ma túy về để sử dụng, Ng đồng ý và đưa cho Đ 150.000đ, Đ nhận tiền và đi mua ma túy. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ đến phòng trọ đưa ma túy cho Ngh và nói để tối sử dụng rồi bỏ đi. Ngh đem ma túy cất giấu gần tấm niệm nơi Ngh ngủ. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/3/2019 Lực lượng Công an huyện Phú Quốc kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

*Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước 0,1 cm x 2,7 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất

*Tại bản Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 08/3/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang kết luận: mẫu các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong một bịch ny lon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2714 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 208/KL-PY ngày 08/3/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 70/CT-VKSPQ ngày 10 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Dương Quốc Ngh về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Phần tranh luận, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dương Quốc Ngh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Dương Quốc Ngh từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,2377 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

Đối với người tên Đ là người có liên quan đến vụ án, khi nào làm rõ nhân thân, nơi cư trú sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm mức hình phạt với mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ: Do có sử dụng ma túy nên vào ngày 05/3/2019 Dương Quốc Ngh hùn tiền với một người bạn tên Đ mua ma túy để sử dụng. Tuy nhiên do chưa sử dụng nên Ngh cất giấu gói ma túy dưới gối nằm trong phòng ngủ tại nhà trọ Th Đ. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/3/2019 Lực lượng Công an huyện Phú Quốc kiểm tra hành chính tại nhà trọ Th Đ thì phát hiện Dương Quốc Ngh đang tàng trữ 0,2714 gam Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 08/3/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang đã kết luận: mẫu các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong một bịch ny lon được niêm phong gửi giá định là chất ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2714 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo Dương Quốc Ngh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy đang được coi là mối hiểm họa của nhân dân, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của tòan Đảng, toàn Dân; Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách bài trừ tệ nạn ma túy. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhầm mục đích sử dụng nên đã phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà thai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,2377 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Dương Quốc Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Dương Quốc Ngh 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2019.

2.Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 0,2377 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu sau giám định được niêm phong.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Phú Quốc theo biên bản giao nhận ngày 25/6/2019)

3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ