vanban.org

Bản án 67/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 06/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản”.

Xử phạt Dương Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/4/2019. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 67/2019/HS-ST
Ngày: 06-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hoa.

2. Ông Bùi Huy Xuân.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2019/HS-ST ngày 08-7-2019 đối với bị cáo:

Dương Văn T, sinh năm 1961; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; con ông: Dương Văn S, sinh năm: 1920 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1914 (đã chết); Vợ: Văn Thị Kim L, sinh năm: 1957, có 02 người con, con lớn sinh năm: 1986, con nhỏ sinh năm: 1988; Tiền sự: không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 26/01/1989 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức. (có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Khí dầu mỏ hóa lỏng V. Địa chỉ: 190/TT, ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn B, sinh năm: 1956.

Địa chỉ: K6/262, đường H, tổ 24, khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn B1, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

Ông Phan Thái Công Đ, sinh năm: 1999. HKTT: Thôn X, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Ông B, ông Đắc có mặt; ông B1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- 2 -

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 01/2019, Dương Văn T được ông Vũ Văn B1 (sinh năm: 1972; trú tại: khu phố K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) là quản lý của Công ty TNHH Khí dầu mỏ hỏa lỏng V tại thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (do ông Bùi Văn B; sinh năm: 1956; trú tại k6/262, đường H, tổ 24, khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai - Làm tổng giám đốc) nhận vào làm nhân viên bảo vệ. Trong quá trình làm việc, ông B1 còn giao thêm cho T nhiệm vụ kiểm hàng và nhận giữ tiền của nhân viên bán hàng trong công ty. Vào khoảng 19 giờ ngày 25/02/2019, khi anh Phan Thái Công Đ - là nhân viên bán hàng của công ty) chở hàng về trạm rồi gọi điện thoại cho ông B1 để giao số tiền bán hàng trong ngày là 30.073.000 đồng. Ông B1 nói với Đ là giao tiền cho T, anh Đ nghe vậy nên đã giao số tiền 30.073.000 đồng cho T và có ký nhận vào sổ chấm công hàng ngày với nội dung là nhận của Đ số tiền 30.073.000 đồng. Sau khi nhận số tiền từ anh Đ thì T nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T cất giấu số tiền 30.073.000 đồng rồi lên thành phố Hồ Chí Minh bỏ trốn và tiêu xài cá nhân. Ngày 26/02/2019, Công ty TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V đã làm đơn trình báo sự việc Tài chiếm đoạt tiền của Công ty lên Cơ quan Công an. Sau khi thực hiện hành vi T bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã ra thông báo truy tìm đối tượng gây án, đến ngày 24/4/2019, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức bắt giữ, tại đây T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 08-7-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố Dương Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Dương Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt T mức án từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù. Theo đại diện Viện Kiểm sát phần trách nhiệm dân sự buộc T bồi thường cho Công ty TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V số tiền là 30.073.000 đồng.

Bị cáo T xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, nguyên đơn dân sự, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- 3 -

Về hành vi của bị cáo, bị cáo Dương Văn T thừa nhận thực hiện hành vi như sau:

Dương Văn T là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V thuộc thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 01/2019. Ngoài công việc bảo vệ T được giao thêm công việc kiểm hàng và nhận giữ tiền của nhân viên bán hàng trong công ty. Vào khoảng 21 giờ ngày 25/02/2019, sau khi nhận số tiền 30.073.000 đồng từ anh Phan Thái Công Đ (là nhân viên bán hàng của Công ty), T đã không bàn giao lại cho Công ty và chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Hành vi mà bị cáo T thực hiện phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người làm chứng, vật chứng của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T làm việc tại công ty, ngoài công việc bảo vệ T được giao thêm công việc kiểm hàng và nhận giữ tiền của nhân viên bán hàng trong công ty, T đã nhận đã giữ tiền từ nhân viên của công ty nhưng T đã không bàn giao lại cho Công ty và chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận Dương Văn T phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Dương Văn T là một công dân đã trưởng thành phải sống đúng theo quy định của pháp luật nhưng vì tham lam tư lợi, vi phạm quy định của Công ty nên bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến tài sản của nguyên đơn dân sự mà còn làm mất trật tự trị an địa phương. Sự cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo để quyết định cho bị cáo một hình phạt phù hợp.

Năm 1989, bị cáo đã bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó để làm bài học cho bản thân; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Như vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với T.

: Vật chứng vụ án: Số tiền 30.073.000 đồng, sau khi chiếm đoạt bị cáo T đã tiêu xài cá nhân hết, hiện không thu hồi được số tiền trên.

: Về trách nhiệm dân sự:

Ông Bùi Văn B là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt của công ty là 30.073.000 đồng. T đồng ý bồi thường. Do đó xử ghi nhận T phải trả cho TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V số tiền 30.073.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo T nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.503.000đ án phí Dân sự sơ thẩm, tổng cộng T nộp 1.703.000đ (một triệu bảy trăm lẻ ba ngàn đồng) án phí.

Vì các lẽ trên,

- 4 -

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Dương Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/4/2019.

Về trách nhiệm dân sự:

Xử ghi nhận Dương Văn T phải trả cho Công ty TNHH thương mại khí dầu mỏ hóa lỏng V số tiền 30.073.000đ (ba mươi triệu không trăm bảy mươi ba ngàn đồng).

Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí: Bị cáo T nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 1.503.000đ án phí Dân sự sơ thẩm, tổng cộng T nộp 1.703.000đ (một triệu bảy trăm lẻ ba ngàn đồng) án phí.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06-8-2019) bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ