vanban.org

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST" — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc G được ly hôn với anh Huỳnh Công T. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị G và anh T là giao cháu Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và cháu Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (Phù hợp theo nguyện vọng của con)…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 67/2019/HNGĐ-ST"
Ngày: 06-12-2019"

V/v:“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Hợp

2. Bà Huỳnh Phương Lan

- Thư"ký"phiên"tòa:"Bà Lữ Cẩm Nhung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa- Bà Trần Thị Quỳnh Trâm- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352 /2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 về "Tranh chấp"ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 11 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc G, sinh năm 1980;

Địa chỉ: ấp M, xã MT, huyện Tam Bỉnh, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Cẩm D, sinh năm, 1988

Địa chỉ: 221 đường T, phường X, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 20-8-2019).

(Chị G, bà D có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Anh Huỳnh Công T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp G, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

(Anh T vắng mặt phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 04-9-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc G trình bày:

Vào năm 2001 chị và anh Huỳnh Công T cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cở sở hoàn toàn tự nguyện, hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05-11-2001.

Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 2017 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường hay xảy ra cự cải, anh T thường hay uống rượu, sống thiếu trách nhiệm với gia đình, ngoài ra anh T còn có người phụ nữ khác bên ngoài mặc dù chị đã khuyên anh T nhiều lần nhưng anh T không thay đổi làm ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Mặc dù chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành mà mâu thuẫn vợ chồng ngày trầm trọng hơn. Đến năm 2017 chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay và cũng từ thời gian đó vợ chồng chị sống ly thân với nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có chung với nhau 02 người con tên Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016, hiện con đang sống với chị.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Ngọc G yêu cầu:

Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Huỳnh Công T.

Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-10-2019 bị đơn anh Huỳnh Công T trình bày như sau: Anh T xác nhận chị G trình bày về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị G, anh xin hàn gắn.

Về con chung: Đồng ý giao 02 con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tạo lập được tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T đều không có mặt.

Tại phiên tòa chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Anh T vắng mặt không lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Đối với nguyên đơn là chị G: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là anh T: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng đều không có mặt; tại phiên tòa, anh T tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị G.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị G khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh Huỳnh Công T có hộ khẩu thường trú ấp G, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã triệu tập hợp lệ anh T đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T vẫn tiếp tục vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị G và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2001 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị G nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, anh T sống thiếu trách nhiệm với vợ con và gia đình. Thực tế chị G đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2017 cho đến nay, vợ chồng sống trong tình trạng ly thân, không ai quan T đến ai và vấn đề này cũng được được anh T thừa nhận. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị G, anh T đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G, xử cho chị G được ly hôn anh T.

[3] Về quan hệ con chung: Chị G và anh T xác nhận trong thời gian chung sống anh chị có 02 người con chung tên Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016. Hiện nay cháu H, cháu P đang sinh sống cùng với chị G. Tại biên bản ghi lời khai của anh T ngày 28-10-2019 thể hiện anh T đồng ý giao cháu H và cháu P cho chị G chăm sóc, nuôi dưỡng và chị G cũng yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị G và anh T là giao cháu H, cháu P cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình (phù hợp theo nguyện vọng của cháu H là hoàn toàn phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, HĐXX đã giải thích cho chị G về quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu H và cháu P cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật nhưng chị G xác định không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con và việc chị G không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị G và anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị G và anh T cam kết không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[7] Xét lời trình bày của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc G được ly hôn với anh Huỳnh Công T.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị G và anh T là giao cháu Huỳnh Nhật H, sinh ngày 03-3-2004 và cháu Huỳnh Nguyên P, sinh ngày 20-11-2016 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (Phù hợp theo nguyện vọng của con). Chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Chị G và anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị G và anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị G phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng chị G được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0005185 ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang; chị G không phải nộp thêm.

1.“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

2.6. Chị G có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết. Nơi"nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tỉnh Kiên Giang;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Châu Thành;

- Chi cục THADS huyện Châu Thành;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ. """"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""" """""

Danh Pì Sách

Cỡ chữ