- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất; tưới nước, tiêu nước trong canh tác"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Phương T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2019/DS-PT Ngày: 12-4-2019 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất; tưới nước, tiêu nước trong canh tác |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Ông Nguy n Tấn Tặng;
Ông Sỹ Danh Đ t.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Ph m Thị Thanh Hương - i m sát viên.
Trong các ngày 08/4/2019, 12/4/2019 t i trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất; tưới nước, tiêu nước trong canh tác.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2018/DS-ST ngày 03/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện V bị kháng cáo.
Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 114/2019/ Đ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Phương T, sinh năm 1953; địa ch : Ấp A, xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Ngô Thanh L, sinh năm 1978; địa ch : Ấp A, xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Nguy n Thị H, sinh năm 1981; địa ch : Ấp A, xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền: Anh Ngô Thanh L, sinh năm 1978; địa ch : Ấp A, xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp. (theo văn bản ủy quyền ngày 02/4/2019).
3.2. Ủy ban nhân dân huyện V.
Địa ch : hóm B, thị trấn L, huyện V, t nh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo pháp luật: Ông Đặng Hữu T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Ngô Phương T - Là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Ngô Phương T trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là do trước giải phóng cha mẹ cho ông T và các anh em trong gia đình sử dụng m đường nước chung đ canh tác, lúc đó ông T sử dụng đường nước này cho thửa đất giáp sông xáng phía trước. Đến năm 1990, các anh em không ai sử dụng nữa, nên san lắp đường nước. Lúc đó ông T cũng thống nhất không tranh chấp gì, vì ông T đặt ống b ng từ sông xáng vào đất của ông đ sử dụng và bơm nước thuê cho các hộ phía sau sử dụng. Năm 2007, anh em trong gia đình đào đường nước bên đất của anh L, ông T mới đào thêm đường nước bên đất ông T, đ sử dụng nước từ sông xáng vào đường nước ông T đào và dẫn nước qua đường nước mới đào bên đất anh L đ cùng sử dụng chung. Từ năm 2007, ông T sử dụng đường nước này đ dẫn vô phần đất ông T mua của ông B (phía sau hậu đất anh L). Năm 2016, do bên ông T và anh L có mâu thuẫn, ông T không bơm nước cho anh L sử dụng, nên anh L đã đắp đập chặn l i đường nước vị trí cuối đất ông T giáp với anh L; từ đó, ông T bơm nước từ sông xáng vô những rãnh nước trong vườn xoài của con gái ông T dẫn nước qua kênh thủy lợi vào đất mua của ông B đ sử dụng đến nay. Đối với kênh thủy lợi này, những tháng khác nước chảy từ sông xáng vào sử dụng bình thường, tuy nhiên, đến mùa nước c n khoảng tháng 2, 3 thì phải bơm, tốn kém (hiện nay xung quanh phần đất này của ông T có khoảng 7-8 hộ, từ trước đến nay cũng sử dụng kênh thủy lợi này đ canh tác). Vì vậy, ông T yêu cầu anh L trả l i phần đất hiện nay là cái bờ anh L tr ng xoài mà từ trước năm 1990 là đường nước sử dụng chung, diện tích 89,4m2 thuộc một phần của thửa 25, tờ bản đ 20 do anh L đứng tên quyền sử dụng đất. Đ ng thời, ông T yêu cầu đ một mình ông sử dụng chứ không cho 7-8 hộ giáp đất của ông T sử dụng, vì từ trước đến nay h vẫn sử dụng kênh thủy lợi đ sản xuất.
Trước đây, ông T yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 25, tờ bản đ 20 do anh L đứng tên quyền sử dụng đất đ cấp l i cho ông T. T i phiên tòa, ông T rút toàn bộ yêu cầu này, không tranh chấp quyền sử dụng đất với anh L nữa.
Ông T ch yêu cầu anh L cho ông đào đường nước, đ canh tác lúa trên diện tích 89,4m2. Đối với cây tr ng có trên đất tranh chấp, ông T đ ng ý trả giá trị cho anh L theo giá Hội đ ng định giá.
- Anh Ngô Thanh L, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị H trình bày: Phần đất tranh chấp do ông T1 cha của anh L đứng tên, đến ngày 11/11/2016 ông T1 sang tên l i cho anh L. Đối với đường nước là do ông Ngô Văn L (ông nội anh L) đào đ sử dụng chung. Năm 1990, các chú của anh san lắp vì lúc đó đường nước này sử dụng không thuận tiện. Ông T đặt ống b ng bên đất ông T đ sử dụng, còn anh L thì sử dụng nước từ kênh thủy lợi. Năm 2007, các chú của anh L đào đường nước bên đất anh L đ sử dụng (sự việc giống như ông T trình bày). Năm 2016, ông T bơm nước vào mà không cho anh L sử dụng, nên anh L phải mua phần đất khác cặp sông xáng đ đặt ống b ng vào đất của anh L, r i anh đắp đập chặn ngang đường nước không cho ông T sử dụng chung. Đối với phần đất ông T mua của ông B, từ trước đến nay ông T sử dụng nước từ kênh thủy lợi đ canh tác như những hộ xung quanh, nên anh L không đ ng ý theo yêu cầu của ông T. Đối với cây tr ng có trên đất, anh L đ ng ý nhận giá trị theo giá hội đ ng định giá đã định nếu chấp nhận yêu cầu của ông T.
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:
Đình ch xét xử yêu cầu của ông Ngô Phương T về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 89,4m2, thuộc một phần của thửa 25, tờ bản đ 20 do anh Ngô Thanh L đứng tên quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/11/2016, t a l c t i xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp.
hông chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Phương T về việc tranh chấp về tưới nước, tiêu nước trong canh tác với anh Ngô Thanh L và chị Nguy n Thị H đối với diện tích 89,4m2, thuộc một phần của thửa 25, tờ bản đ 20 do anh Ngô Thanh L đứng tên quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/11/2016, t a l c t i xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp.
(Có biên bản xem xét thẩm định t i chỗ ngày 13/4/2018 và sơ đ đo đ c phần đất tranh chấp ngày 25/6/2018 kèm theo).
Về án phí: Buộc ông Ngô Phương T phải nộp 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) án phí sơ thẩm dân sự. Được khấu trừ vào 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) ngày 09/11/2017 theo biên lai số 02020 và 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) ngày 04/6/2018 theo biên lai số 0001606 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Ông Ngô Phương T được nhận l i 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng).
Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản:
Ông Ngô Phương T phải chịu chi phí thẩm định, định giá là 900.000 đ ng (Chín trăm nghìn đ ng), số tiền này ông T đã t m nộp đủ và chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 12 năm 2018, ông Ngô Phương T kháng cáo, yêu cầu anh Ngô Thanh L trả l i đường nước chung đ dẫn nước vào đất của ông T đ canh tác lúa.
- T i phiên tòa phúc thẩm:
+ Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, không tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết tranh chấp và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
+ Bị đơn: Đ ng ý theo quyết định của bản án sơ thẩm và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
- Đ i diện Viện ki m sát T nh phát bi u ý kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đ ng xét xử, Thư ký, các đương sự trong thời gian chuẩn bị xét xử và t i phiên tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Phần đất tranh chấp diện tích 89,4m2 thuộc một phần thửa số 25 tờ bản đ số 20. T i phiên tòa ông T thừa nhận ông không còn sử dụng đường nước từ năm 1990, đất do anh L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào các chứng cứ có trong h sơ cho thấy, trước khi ông B chuy n nhượng đất cho ông T thì ông B sử dụng đường nước từ kênh thủy lợi và hiện nay kênh thủy lợi vẫn được các hộ dân sử dụng dẫn nước đ sản xuất, nên yêu cầu m đường nước của ông T là không có cơ s . Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
[1] T i phiên tòa phúc thẩm, anh Ngô Thanh L đ i diện theo ủy quyền của chị Nguy n Thị H tham gia tố tụng; đ i diện Ủy ban nhân huyện V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các thủ tục đều đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[2] Ngu n gốc đất tranh chấp trước đây là của ông Ngô Văn L (cha của ông T, ông nội của anh L), diện tích 89,4m2 (ngang 02m, dài một c nh 45,3m, một c nh 45,45m) thuộc một phần thửa đất số 25 tờ bản đ số 20, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L vào ngày 11/11/2016, đất t i xã Y, huyện V, Đ ng Tháp. Trước đây, phần đất của ông L có đào đường nước đ phục vụ tưới tiêu cho diện tích đất của ông L, đường nước này dẫn nước từ sông xáng vào đ canh tác và phần đất tranh chấp là một phần đất đường nước đ phục vụ cho diện tích đất ruộng mà ông T1 được hư ng của cha mẹ đ l i, sau này ông T1 chuy n quyền sử dụng l i cho anh L. Theo ông T cho rằng, phần đất tranh chấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L là không đúng, nên yêu cầu hủy giấy chứng nhận của anh L, nhưng t i phiên tòa sơ thẩm, ông T rút l i yêu cầu này mà ch yêu cầu xem xét cho ông được sử dụng 89,4m2 đất đ đào đường nước tưới tiêu cho diện tích đất của ông đã chuy n nhượng l i của ông B (đất này giáp với đường thủy lợi nội đ ng và nằm phía hậu khu vực đất của ông T, được cha mẹ cho th hiện t i biên bản khảo sát ngày 06/11/2018 của Tòa án huyện V).
[3] Ông T thừa nhận, phần đất của ông được cha mẹ chia giáp với sông xáng nên ông làm cống tưới tiêu đ lấy nước trực tiếp từ sông và tiêu nước ra sông nên không còn sử dụng đường nước (t i diện tích 89,4m2) nói trên từ năm 1990. Đ ng thời, ông T thừa nhận, các anh em của ông thống nhất san lắp đường nước cho anh L tr ng cây ăn trái (hiện nay anh L vẫn sử dụng tr ng cây ăn trái). Năm 2000, ông T chuy n nhượng đất của ông B và vẫn sử dụng đường thủy lợi nội đ ng đ sản xuất. Năm 2007, ông T và anh L mỗi người đào một phần đường nước trên đất của mình nối tiếp nhau đ t o thành đường dẫn nước chung, sử dụng chung, nhưng sau này ông T bơm nước không cho anh L sử dụng và đã xảy ra mâu thuẫn, nên không còn sử dụng chung đường nước này. Do đó, anh không đ ng ý việc ông T yêu cầu được sử dụng phần đất tranh chấp (89,4m2) đ đào đường nước.
[4] ua nội dung trên cho thấy, trước đây đất của ông T, anh L đều có ngu n gốc là của ông L và có đường nước sử dụng tưới tiêu canh tác lúa. Sau khi chia đất cho ông T, ông T1 (cha của anh L) thì ông T1 giao đất cho anh L sử dụng, đ ng thời đường nước được san lắp và từ đó mỗi người có đường nước riêng đ canh tác. Ông T thừa nhận trước khi ông B chuy n nhượng đất cho ông thì ông B vẫn sử dụng đường thủy lợi nội đ ng đ canh tác, thực tế hiện nay đường thủy lợi nội đ ng vẫn phục vụ tưới tiêu cho đất của các hộ khác và đất của ông T (đất chuy n nhượng của ông B). Mặt khác, đất thuộc quyền sử dụng của anh L và hiện t i anh L đang tr ng cây ăn trái, do đó ông T yêu cầu anh L đốn cây ăn trái đ ông đào đường nước là không phù hợp pháp luật.
[5] Đ i diện Viện ki m sát T nh ý kiến: Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T là có cơ s nên chấp nhận.
Án sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T (điều ch nh cách tuyên án).
[6] Về án phí: Ông T phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 9 Điều 26, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội.
1. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Phương T.
Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Đình ch xét xử yêu cầu của ông Ngô Phương T về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 89,4m2, thuộc một phần của thửa số 25, tờ bản đ số 20, do anh Ngô Thanh L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/11/2016.
3. hông chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Phương T về tranh chấp việc tưới, tiêu nước trong canh tác với anh Ngô Thanh L và chị Nguy n Thị H, cụ th là yêu cầu được đào đường nước trên diện tích 89,4m2, thuộc một phần thửa số 25, tờ bản đ số 20 do anh Ngô Thanh L đứng tên quyền sử dụng đất cấp ngày 11/11/2016, đất t i xã Y, huyện V, t nh Đ ng Tháp.
(kèm theo biên bản xem xét thẩm định t i chỗ ngày 13/4/2018 và sơ đ đo đ c phần đất tranh chấp ngày 25/6/2018).
4. Về án phí:
Ông Ngô Phương T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí 600.000đ theo các biên lai số 02020 ngày 09/11/2017 và số 0001606 ngày 04/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, t nh Đ ng Tháp. Ông T được nhận l i số tiền còn thừa là 300.000đ.
Ông Ngô Phương T phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí kháng cáo là 300.000đ theo biên lai số 0007104 ngày 14/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, t nh Đ ng Tháp.
3. Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Ông Ngô Phương T phải chịu chi phí thẩm định, định giá là 900.000đ (đã nộp xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - V SND T nh; - TAND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |