vanban.org

Bản án 67/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 20/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng (Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 03-01-2018 đến ngày 12-01-2018). Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho UBND xã H, huyện V, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyeenx Xuân T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/HSST
Ngày: 20-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Cải.

Bà Vương Thị Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 20-3-2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2018/TLST-HS ngày 28-02-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2018/QĐXXST-HS ngày 09-3-2018 đối với bị cáo:H

Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh năm 1981 tại huyện V, tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc H, có 01 con sinh năm 2015; tiền án; tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-01-2018 đến ngày 12-01-2018 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Người bị hại: Chị Trần Thị H, sinh năm 1959 (Đã chết).

- Những người đại diện theo pháp luật của người bị hại:

1. Chị Trần Thị H, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Xóm 9 xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam.

2. Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Xóm 1 xã H, huyện Lý N, tỉnh Hà Nam.

3. Anh Trần Hữu B, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Xóm 9 xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam.

4. Anh Trần Hữu Bàng, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Xóm 9 xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam.

- Người đại diện theo ủy quyền:

Những người đại diện theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ hai của của người bị hại đã có văn bản ủy quyền cho anh Hoàng Công H, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Xóm 1, thôn L, xã L, thành phố N.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo Nguyễn Xuân T; người đại diện theo ủy quyền anh H có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T là lái xe tự do, có giấy phép lái xe hạng C (Được lái các loại ô tô, máy kéo romooc có trọng tải từ 3.500 kg trở lên và xe hạng B1, B2) do Sở giao thông vận tải Nam Định cấp ngày 25-6-2013.

Chiều ngày 02-01-2018 T điều khiển xe ô tô tải hiệu Cửu Long, loại 2,9 tấn, biển kiểm soát ....-007.43 đi trên Quốc lộ 10 (QL10) giao hàng tại xã Mỹ Tiến, huyện Mỹ Lộc. Đi cùng T ngồi bên ghế phụ có anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980 trú tại thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định là người bốc vác giao hàng hóa. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến gần đoạn km 110+100 QL10 thuộc địa phận xã Mỹ Xá, thành phố N trong điều kiện đường trải nhựa bằng phẳng, có giải phân cách cứng chia đường thành hai chiều riêng biệt. Chiều đường xe T đi rộng 7,5 m, giữa có vạch sơn đứt quãng chia làm hai làn đường theo hướng đi Nam Định - Thái Bình và cách dải phân cách cứng khoảng 60 cm. T điều khiểm xe ô tô chạy với tốc độ khoảng 45-50 km/h. T quan sát thấy chị Trần Thị H, sinh năm 1959 trú tại thôn L, xã L, thành phố N đang điều khiển xe máy biển kiểm soát .....-203.72 đi phía trước cùng chiều bên phải gần sát dải sơn đứt quãng, phía trước xe chị H có 01 xe ô tô tải (Không rõ biển kiểm soát) cũng đang đi cùng làn đường. Xe ô tô này đi chậm lại và bật tín hiệu chuyển hướng đánh lái sang phải để đỗ vào vệ đường nên chị H đã đánh lái sang trái để định vượt qua xe ô tô này. Do thiếu chú ý quan sát và không sử dụng tín hiệu đèn còi để xin vượt nhưng T vẫn tăng ga vượt qua xe chị H. Do vậy, khi xe ô tô vượt lên thì phần má lốp bánh trước bên phải xe ô tô của T đã va vào mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái xe máy của chị H làm xe máy đổ xuống đường. Biết xẩy ra tai nạn, T dừng xe lại, gọi xe cứu thương đưa chị H vào bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu nhưng do thương tích nặng đến 19 giờ 40 phút cùng ngày chị H đã tử vong tại bệnh viện.

Ngày 03-01-2018, Nguyễn Xuân T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu ở trên.

Ngay sau khi tai nạn xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã thành lập Hội đồng khám nghiệm cùng các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện T, tử thi theo quy định của pháp luật.

* Kết quả khám nghiệm hiện T:

Tình trạng hiện T đã bị xáo trộn một phần do cấp cứu người bị nạn và các phương tiện tham gia giao thông khác.

Hiện T của đoạn đường xảy ra tai nạn: QL10 được trải nhựa bằng phẳng. Ở giữa có giải phân cách cứng rộng 03m, cao 00m15 chia mặt đường thành hai phần chạy ngược chiều riêng biệt. Chiều đường xe đi từ Ninh Bình ra Thái Bình rộng 07m50, ở giữa chiều đường có vạch sơn màu trắng kẻ thẳng đứt quãng, chia làn đường cho các phương tiện tham gia giao thông. Làn đường sát với lề đường bên phải theo chiều xe đi từ Ninh Bình ra Thái Bình rộng 03m60. Tại nơi xảy ra tai nạn, dải phân cách cứng mở rộng 02m80 cho người đi bộ qua đường. Bên đường có biển báo số 423.

Mô tả số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

- Vết cày thứ nhất của xe mô tô ...-20372 tại mặt đường QL10 làm xước nhựa mặt đường. Vết có chiều hướng từ Ninh Bình ra Thái Bình, xiên chếch từ giải phân cách cứng giữa đường về phía mép đường chuẩn. Kích thước vết dài 06m30. Từ đầu vết ra mép đường chuẩn là 04m30 và cách mốc là 21m90. Cuối vết trùng với cạnh ngoài đầu mỏm để chân người lái bên trái xe mô tô ...-20372.

- Vết cày thứ hai của xe mô tô ...-20372 tại mặt đường QL10 làm xước nhựa mặt đường. Vết có chiều hướng từ Ninh Bình ra Thái Bình, xiên chếch từ giải phân cách cứng giữa đường về phía mép đường chuẩn. Kích thước vết dài 03m10. Từ đầu vết ra mép đường chuẩn là 04m60 và cách đầu vết cày thứ nhất là 03m05. Cuối vết cày trùng với cạnh ngoài giá để chân người ngồi sau bên trái xe mô tô ...-20372.

- Vết phanh màu đen của xe mô tô ...-20372 tại mặt đường QL10. Vết có chiều từ phía Ninh Bình ra Thái Bình. Kích thước vết dài 06m70, rộng 00m3. Từ đầu vết ra mép đường chuẩn là 04m70 và cách đầu vết cày thứ nhất là 04m00 và cách đầu vết cày thứ 2 là 0m90. Cuối vết cày trùng với lốp xe phía sau bên phải của xe mô tô BKS ...-20372.

- Xe mô tô BKS ...-20372 sau khi va chạm, xe đổ ngả trái tại mặt đường QL10. Đuôi xe quay về phía Ninh Bình, chếch về phía dải phân cách cứng giữa đường. Đầu xe quay về phía Thái Bình, chếch về mép đường chuẩn. Từ trục chính bánh sau bên trái xe ra mép đường chuẩn là 04m10. Từ trục chính bánh trước bên trái xe ra mép đường chuẩn là 03m10.

- Xe ô tô BKS ...-00743 sau khi va chạm, xe dừng lại tại mặt đường QL10. Đầu xe quay ra phía Thái Bình, đuôi xe quay ra phía Ninh Bình. Từ trục chính bánh sau bên phải xe ra mép đường chuẩn là 04m95 và cách trục chính bánh sau bên phải xe mô tô BKS ...-20372 là 04m30. Từ trục chính bánh trước bên phải xe ra mép đường chuẩn là 05m40.

- Đám máu của nạn nhân tại mặt đường QL10 và ở phía bên phải của xe ô tô BKS ...-00743. Vết máu không xác định hình dạng. Kích thước vết dài 01m20, rộng 00m70. Tâm vết ra mép đường chuẩn là 05m và cách trục chính bánh sau bên phải của xe ô tô BKS ...-00743 là 01m20.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại bản kết luận pháp y số 06/GĐKTHS ngày 10-01-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Trần Thị H là do đa chấn thương với cơ chế do va đập và trà xát. Cụ thể: Tụ máu dưới da cơ vùng mi mắt, má trái trên diện 8cm x 7cm; vỡ mẻ xương gò má trái; vỡ xương bả vai trái; gẫy đầu ngoài xương đòn trái; gẫy cung trước xương sườn 2, 3, 4, 5, 6, 7 bên trái; gẫy cung bên xương sườn 4, 5, 6, 7 bên trái; gẫy ngang 1/3 giữa xương ức; gẫy cung trước xương sườn 4, 5, 6, 7 bên phải; sai trật ổ khớp cổ tay trái; gẫy đầu dưới xương trụ tay trái; sai trật ổ khớp cổ tay phải.

* Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông: Phương tiện xe máy và xe ô tô không thiệt hại, hoạt động bình thường.

Về trách nhiệm dân sự: T và gia đình đã khắc phục hậu quả và bồi thường cho gia đình nạn nhận là chị Trần Thị H số tiền 80.000.000 đồng. Các bên đã nhất trí không có thắc mắc, khiếu nại gì. Ngày 10-01-2018 anh H là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Xuân T.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã trả lại vật chứng thu giữ gồm 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát .....-007.43 cho Nguyễn Xuân T và chiếc xe máy biển kiểm soát ...-203.72 cho anh H.

Bản cáo trạng số 84/QĐ-KSĐT ngày 27-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận biết rõ hành vi cho xe ô tô vượt không đúng quy định của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn làm tử vong chị Trần Thị H là vi phạm pháp luật nhưng do chủ quan, thiếu quan sát nên đã để xẩy ra tai nạn cho chị H và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng. Bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và quyết định đã truy tố đối với Nguyễn Xuân T. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo cải tạo tại địa phương, lao động và nuôi dạy con cái, chăm sóc bố mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân T đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện T và sơ đồ, bản ảnh hiện T; biên bản khám nghiệm và bản ảnh khám phương tiện; biên bản khám nghiệm tử thi; bản kết luận giám định pháp y tử thi số 06/GĐKTHS ngày 10-01-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; biên bản trích xuất camera; bằng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu giữ trong quá trình điều tra đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02-01-2018, bị cáo Nguyễn Xuân T có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 18C-007.43 chở 1,5 tấn hàng lưu thông trên QL10 theo hướng Ninh Bình - Thái Bình. Khi đi đến đoạn km 110+100 thuộc địa phận xã Mỹ Xá, thành phố N T quan sát phía trước thấy chị H điều khiển xe máy để vượt 01 xe ô tô tải đang đi cùng làn đường bật tín hiệu chuyển hướng đánh lái sang phải để đỗ vào vệ đường nhưng T không giảm tốc độ mà tiếp tục cho xe vượt lên khiến phần má lốp bánh trước bên phải xe ô tô của T đã va vào mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái xe máy của chị H, hậu quả chị H đã tử vong.

Như vậy, Nguyễn Xuân T điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông trên đường đã không chú ý quan sát và không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép là vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31-12-2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ làm chết 01 người. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm sự an toàn và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của chị H. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, đã học qua T lớp và có đủ điều kiện để được cấp bằng lái xe hạng C. Bị cáo nhận thức và hiểu biết được các quy định về Luật giao thông đường bộ nhưng ngày 02-01-2018 khi điều khiển xe ô tô lưu thông trên đường do lỗi chủ quan vô ý đã xử lý tình huống trên đường sai với quy định của Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn và hậu quả làm chết một người người. Hành vi của bị cáo cần được xử lý hình sự nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo ra đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra vụ án gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình người bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử Quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

Vấn đề trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình đã bồi thường đầy đủ gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét đến phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát ....-007.43 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Xuân T và chiếc xe máy biển kiểm soát .....-203.72 là tài sản thuộc sở hữu của anh H trú tại Xóm 1 thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bị cáo và anh H là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng (Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 03-01-2018 đến ngày 12-01-2018).

Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho UBND xã H, huyện V, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục.

- T hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 01 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người được ủy quyền được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ