vanban.org

Bản án 67/2018/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 18/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình Th - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/HSST
Ngày 18 - 4 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Hiếu, ông Bùi Thế Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Th Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Đình Th, tên gọi khác: không; sinh năm: 1955 tại Y, Bắc Giang; nơi ĐKHKTT: Thôn I, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, nơi tạm trú: Tổ 1, khu Nam Trung, phường Nam Khê, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đình T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tính, có hai vợ: vợ thứ nhất là Nguyễn Thị Đ (đã chết), vợ thứ hai là Nguyễn Thị T2 và có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1976, con nhỏ nhất sinh năm 1990); tiền sự: Không; có 01 tiền án: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 13 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nhân thân: Năm 1986 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 01 năm tù về tội Buôn bán hàng cấm; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2017 đến nay, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh H – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Trần H, Đoàn luật sư tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 50 phút ngày 11/9/2017, tại khu vực bản SC, xã L, huyện H, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện H đã phát hiện bắt quả tang Vũ Đình Th (trú tại: huyện Y, tỉnh Bắc Giang) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 09 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, xanh, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY và 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp), 02 chiếc điện thoại di động, 500.000đ cùng một số giấy tờ liên quan.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu trưng cầu giám định xác định được: 09 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén có tổng trọng lượng là 174,56 gam và 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng có trọng lượng 100,95 gam; kết quả giám định là đều loại chất Methamphetamine.

Quá trình điều tra Vũ Đình Th khai nhận:

Khoảng đầu tháng 9/2017, Vũ Đình Th đi xe khách từ Quảng Ninh lên H, Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến ngã ba chợ S, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì Th xuống xe đi vài quán bia ven đường, gặp và làm quen với một người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên Páo là chủ quán bia. Th đặt vấn đề mua 10 túi hồng phiến, Páo nói giá mỗi túi hồng phiến là 7.000.000đ, muốn mua phải đặt trước 20.000.000đ, Th đồng ý và đưa trước cho Páo 20.000.000đ. Trước khi về, Th và Páo cho nhau số điện thoại để liên lạc. Khoảng 3 ngày sau, Páo gọi điện thoại cho Th thông báo có 9 túi hồng phiến, 1 lạng ma túy đá và bảo giá là 90.000.000đ, Th đồng ý và bảo khi nào có đủ tiền sẽ liên lạc với Páo sau.

Đến ngày 10/9/2017, Th gọi điện cho Páo thông báo Th sẽ lên mua ma túy, Páo bảo Th khi đi đến cây xăng A Phương thuộc bản SC, xã L, huyện H thì xuống xe vào nhà vệ sinh nam của cây xăng, ma túy được giấu ở chân ốp sứ đỡ chậu rửa phía trong và để tiền còn thiếu vào chỗ lấy ma túy. Sau đó, Th đón xe khách từ Quảng Ninh lên Sơn La, đên khoảng 15 giờ cùng ngày, Th đến cây xăng A Phương và đi vào nhà vệ sinh nam như chỉ dẫn của Páo, Th lấy ma túy ra kiểm tra và để số tiền 70.000.000đ còn lại vào chỗ đã lấy ma túy. Sau khi lấy được ma túy, Th cất giấu vào hậu môn của mình rồi đi bộ ra đường quốc lộ để đón xe khách đi về thì bị tổ công tác phát hiện và Th đến Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên để lấy dị vật trong ổ bụng thì Th đã tự giác lấy từ hậu môn ra 03 gói ma túy, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Vũ Đình Th khai của người đàn ông dân tộc Mông tên Páo, chủ quán bia ở ngã ba S, P, M, Hòa Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, điều tra tại khu vực ngã ba Sa Lĩnh không có ai tên Páo chủ quán bia như Th khai, và chiếc điện thoại Th dùng để liên lạc với Páo thì Th đã làm mất. Ngoài lời khai của Th, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để điều tra, làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 20/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vũ Đình Th về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Vũ Đình Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Vũ Đình Th từ 18 đến 19 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm của luật sư Trần Huấn bào chữa cho bị cáo Vũ Đình Th: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, mở lượng khoan hồng giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Bị cáo Vũ Đình Th nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về hành vi phạm tội: ngày 11/9/2017 Vũ Đình Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 275,51 gam loại chất Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trong khi bị cáo đứng đợi xe khách ở bản SC, xã L, huyện H, tỉnh Sơn La để vận chuyển ma túy về Quảng Ninh thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 50 phút ngày 11/9/2017 đối với Vũ Đình Th tại Bệnh viện Đa khoa Thảo Nguyên, thị trấn Nông trường Mộc Châu, tỉnh Sơn La cùng vật chứng đã thu giữ 09 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén có tổng trọng lượng là 174,56 gam và 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng có trọng lượng 100,95 gam.

Kết luận giám định số: 881/KLMT ngày 14/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định đều là chất ma túy, loại chất Methaphetamine. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 275,51 gam, loại chất Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo.

- Lời khai của anh Hà Văn Ê, sinh năm 1968, trú tại: Bản PT, xã Ph, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có mặt chứng kiến việc cơ quan điều tra kiểm tra người bị cáo Th và việc bị cáo Th tự giác giao nộp ma túy.

Từ các căn cứ như đã nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Đình Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Vũ Đình Th có hành vi mua bán trái phép 275,51 gam loại chất Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam” quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, là hành vi tiếp tay cho tội phạm, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/5/1999 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 13 năm tù và phạt bổ sung 20.000.000đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Th chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 30/8/2005 nhưng hình phạt bổ sung và án phí bị cáo chưa chấp hành nên bị cáo chưa được xóa án tích. Do bị cáo có một tiền án về tội rất nghiêm trọng nay lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo có anh trai là liệt sĩ nên cần áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung ( hạ iền) theo quy định tại khoản 5 Điều 194, song xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung ( hạ iền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 264,52 gam loại chất Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định xét thấy là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ khi bắt quả tang bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Th.

Đối với số tiền 500.000đ thu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Vũ Đình Th 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

- Tịch thu tiêu hủy: 264,25 gam loại chất Methamphetamine được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện H - Công an tỉnh Sơn La phát hành.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Đình Th: 02 chiếc điện thoại di động, trong đó: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Model RM 1187, vỏ màu xanh, 2 IMEI có 04 số cuối 1929, 1937 kèm 02 sim trong máy và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu hồng nhạt (đều thu giữ của Vũ Đình Th).

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 500.000đ (Năm răm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/4/2018)./.

Cỡ chữ