vanban.org

Bản án 67/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 14/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Đì nh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh V 1 (Mộ t) năm 9 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 6 năm 2018. Về vậ t chứ ng : Căn cứ điể m c khoản 1 Điề u 47… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đinh V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Đì nh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/HS-ST
Ngày 14-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Bùi Nguyên Thoại.

Ông: Hoàng Văn Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang-Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễ n Thế Hù ng- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại hộ i trườ ng xé t xử số 1, trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễ n Đì nh V, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1963, tại huyệ n C, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú : Khu 1, xã P, huyệ n C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Nguyễ n Đì nh  và bà Đà o Thị N (Đề u đã chế t ); bị cáo có vợ là Hoàng Thị Th, sinh năm 1971 (Đã ly hôn năm 2006) và có 01 con sinh năm 1993. Trú tại: xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2004 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt Nguyễn Đình V 4 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2010 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt Nguyễ n Đì nh V 3 năm 6 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Đề u đã xóa án tích ). Bị cáo bị bắt tạm giữ , tạm giam từ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Hiệ n đang bị tạ m giam tạ i nhà tạ m giữ Công an thà nh phố Là o Cai. Có mặt.

Ngườ i là m chứ ng: Bà Lại Hợp L, sinh năm 1954.

Đị a chỉ: Tổ 20, phườ ngB, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Đình V chờ xe Buýt tại khu vực tổ 17, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai , sau đó thuê một người đàn ông (Không quen biết) chở xe ôm vào Ngã tư Làng D thuộc xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai để mua ma túy. Đến khu vực Ngã tư Làng D, Nguyễn Đình V hẹn người lái xe ôm khoảng 3 tiếng sau quay lại đón. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình V nhìn thấ y một người nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở ven đường. Nguyễn Đình V đi đến hỏi "Có hàng không" người nam giới trả lời "Có, lấy bao nhiêu". Nguyễn Đình V trả lời "Để cho hai triệu rưỡi" rồ i lấy tiền đưa cho người nam giới này. Người nam giới đưa cho Nguyễn Đình V 01 (Một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng. Nguyễn Đình V cất gói ma túy vào túi quần sóoc bên trái đang mặc và đứng đợi một lúc thì người lái xe ôm chở Nguyễn Đình V lúc trước quay lại đón quay chở lại khu vực tổ 17, phường B. Đến khoảng 13 giờ 40 phút, tổ công tác Công an phường Bình Minh thấy Nguyễn Đình V bị có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa về trụ sở Công an phường Bình Minh, mời người chứng kiến tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra đố i vớ i Nguyễn Đình V tự giác lấy từ trong túi quần sóoc bên trái đang mặc ra giao nộp 01 (Một) gói ma túy và khai nhận đó là gói ma túy Hêrôin vừa mua được để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 119 ngày 14 tháng 6 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 1,86 (Một phẩy tám mươi sáu) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngà y 23 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai , truy tố đố i vớ i Nguyễ n Đì nh V về tộ i “Tà ng trữ trái phép chất ma túy’ theo quy đị nh tạ i điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễ n Đì nh V phạm tội “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y”. Áp dụng điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoả n 1 và khoản 2 Điề u 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh V mức án từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù. Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung theo quy đị nh tạ i khoản 5 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoả n 2 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Tịch thu tiêu hủy 1,42 gam chấ t chấ t bộ t khô , màu trắng, vón cục là Heroine đượ c tá i niêm phong theo quy đị nh bằ ng bì thư.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễ n Đì nh V tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ qu an điều tra, biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang, biên bả n thu giữ vậ t chứ ng, lờ i khai ngườ i là m chứ ng, bản kết luận giám đị nh số 119/GĐMT, ngày 14 tháng 6 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự C ông an tỉ nh Lào Cai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Như vậ y, có căn cứ xác định ngày 12 tháng 6 năm 2018, bị cáo Nguyễ n Đì nh V đã tàng trữ 1,86 gam Heroine mục đích sử dụng . Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độ c quyề n quả n lý cá c chấ t ma tú y củ a Nhà nướ c. Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cá o Nguyễ n Đì nh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy đị nh tạ i điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễ n Đì nh V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử nhậ n trong quá trì nh điề u tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Đình  được tặng thương huân chương kháng chiến hạng nhì. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo có nhân thân xấ u đã phả i chấ p hà nh á n nhiề u năm đượ c giá o dụ c cả i tạ o , nhậ n thứ c hiể u biế t phá p luậ t Nhà nước cấm cá nhân , tổ chứ c tà ng trữ , mua bá n , sử dụ ng hoặ c chiế m đoạ t chấ t ma tú y, nhậ n thứ c đượ c tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo vẫ n nghiệ n chấ t ma tú y tàng trữ để sử dụng. Điề u đó cho thấ y bị cáo không ý thức tôn trọ ng phá p luậ t, tu dưỡ ng rè n luyệ n bả n thân , nên cầ n xé t xử mứ c á n phù hợ p tương xứ ng vớ i tính chấ t mứ c độ hành vi phạm tộ i tiế p tụ c giáo dục, cải tạo bị cáo trở thà nh công dân tố t cho gia đì nh và xã hộ i . Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vậ t chứ ng: Cơ quan điề u tra đã thu giữ củ a bị cá o 1,86 gam Heroine đã trí ch gử i giá m đị nh 0,44 gam Heroine đã lưu mẫ u giá m đị nh, nên không đề cậ p xử lý . Số cò n lạ i 1,42 gam Heroine đượ c tá i niêm phong theo quy đị nh bằ ng bì thư in sẵ n của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh Là o Cai, cần tịch thu tiêu hủy theo quy đị nh phá p luậ t.

Trong vụ á n : Đối với người nam giớ i bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông chở xe ôm ngày 12 tháng 6 năm 2018, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh, làm rõ. Do vậy không điều tra, làm rõ được nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Đì nh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Đì nh V 1 (Mộ t) năm 9 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 6 năm 2018.

Về vậ t chứ ng : Căn cứ điể m c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoản 2 Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự . Tịch thu tiêu hủy 1,42 gam chấ t chấ t bộ t khô, màu trắng, vón cục là loại chất Heroine đượ c tá i niêm phong theo quy đị nh bằ ng bì thư in sẵ n củ a Phò ng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Là o Cai, trên mặ t bì thư có ghi” Vậ t chứ ng cò n lạ i sau trí ch mẫ u giá m đị nh thu trong vụ

Nguyễ n Đì nh V có hành vi phạm tội về ma túy . Phát hiện (Thu giữ ) ngày 12 tháng 6 năm 2018 tại tổ 17, phườ ng B, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễ n Đì nh V phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù: thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù. N¬i nhËn:

Cỡ chữ