- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HS-ST Ngày: 21-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Chinh;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Văn K, sinh năm 1984 tại xã Q; nơi cư trú: Xóm 7, xã Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C, sinh năm 1953 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1955; anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là thứ hai; vợ là Phạm Thị O, sinh năm 1992; có 2 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.
- Bị hại: 1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm 16, xã M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (đã chết).
2. Chị Trần Thị B, sinh năm 1994. Địa chỉ: Xóm 16, xã M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định – Đồng thời là người đại diện hợp pháp của anh Trần Văn T.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: 1. Ông Trần Văn R, sinh năm 1967
2. Bà Đoàn Thị G, sinh năm 1967
Cùng địa chỉ: Xóm 16, xã M, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Văn C, sinh năm 1953. Địa chỉ: Xóm 7, xã Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
2. Anh Phạm Văn P, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 65, Phan Bội Châu, phường Hòa Lạc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Người làm chứng:
1. Anh Bùi Quyết Tiến, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm 13, xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
2. Ông Mai Thanh Liêm, sinh năm 1955. Địa chỉ: Xóm 17, xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
3. Anh Đỗ Văn Bắc, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm 11, xã Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
(Có mặt bị cáo, ông C, anh P, chị B, ông R, bà G; vắng mặt anh Tiến, ông Liêm, anh Bắc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 11/7/2018, Lê Văn K có giấy phép lái xe hạng D nhưng không có giấy phép lái xe hạng E đối với loại xe trên 30 chỗ ngồi đã điề u khiể n xe ô tô khách loại xe giường nằm , biển kiểm soát 14B - 011.21 trên đường chánh thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu theo hướ ng từ xóm 19, xã Hải Hưng đi Quốc lộ 21. Khi đến khu vực xóm 20, xã Hải Hưng, K đã điều khiển xe đi lấn sang làn đường của phương tiện đi ngược chiều, xô và o xe mô tô biển kiểm soát 18H1-061.40 do anh Trần Văn T ở xóm 16, xã Hải Nam , huyện Hải Hậu điề u khiể n đi ngược chiều, phía sau chở vợ là chị Trần Thị B. Hậu quả: Anh T bị thương và chết trên đường đi cấp cứu, chị B bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệ nh việ n Việ t Đức Hà Nội. Xe mô tô bị hư hỏng nặng, xe ô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau khi gây tai nạn, Lê Văn K đã đến Cơ quan Công an huyện Hải Hậu đầu thú. Quá trình điều tra, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 470.000.000đ. Gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, chị Trần Thị B xin từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì thêm về phần dân sự.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 60/18/TT ngày 17/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Anh Trần Văn T tử vong do đa chấn thương: Chấn thương ngực: gãy các xương sườn 7, 8, 9, 10, 11 và 12 cung bên phải; gãy xương cánh chậu phải; gãy phức tạp 1/3 giữa và 1/3 dưới xương đùi trái; gãy phức tạp 1/3 giữa và 1/3 dưới cả hai xương cẳng chân trái.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 13/8/2018 của Hội đồng định giá huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại về tài sản của 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC màu trắng đen BKS 18H1- 061.40 là 5.870.000 đồng; Trị giá thiệt hại về tài sản của 01 xe ô tô khách giường nằm nhãn hiệu Huyndai màu đỏ BKS 14B-011.21 là 1.980.000 đồng. Tổng cộng: 7.850.000 đồng.
Cáo trạng số 66/CT-VKSHH ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như bản cáo trạng đã nêu.
- Tại phiên tòa hôm nay bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hả i Hậ u thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Q giám sát, giáo dục. Về trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong, đối với thiệt hại về tài sản, chị B và anh P xin tự khắc phục, đến nay bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không cần đặt ra giải quyết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Phần tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và thực sự ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm hiện trường; bản kết luận giám định pháp y; biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn; biên bản định giá tài sản; Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và biên bản về việc trả lại tài sản cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cở sở kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 11/7/2018, Lê Văn K không có giấy phép lái xe theo quy định đối với loại xe ô tô trên 30 chỗ ngồi, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 14B-011.21 trên đường chánh thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu. Khi đến khu vực xóm 20, xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu, đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều nên xô vào xe mô tô BKS 18H1-061.40 do anh Trần Văn T điều khiển đi ngược chiều phía sau chở vợ là chị Trần Thị B. Hậ u quả làm a nh T bị thương và chết trên đường đi cấp cứu, chị B bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệ nh việ n Việ t Đức Hà Nội. Hai xe ô tô và mô tô đều bị hư hỏng.
Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là lỗi vô ý do cẩu thả đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lê Văn K có bằng lái xe hạng A1, D là loại giấy phép chỉ được quyền điều khiển mô tô và xe ô tô chở dưới 30 chỗ ngồi. Tuy nhiên, bị cáo đã điểu khiển xe ô tô khách loại xe giường nằm trên 30 chỗ ngồi tham gia giao thông là vi phạm quy định tại Điều 16 Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 của Bộ giao thông vận tải quy định về phân hạng giấy phép lái xe nên đã xô vào xe mô tô do anh Trần Văn T điều khiển chở vợ là chị Trần Thị B đi phía ngược chiều, gây hậu quả làm anh T chết, chị B bị thương phải đi viện điều trị thương tích. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác. Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn huyện Hải Hậu nói riêng và cả nước nói chung, việc vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ có chiều hướng gia tăng. Do đó cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Lê Văn K chưa có tiền án, tiền sự lần đầu phạm tội; trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an xin đầu thú để mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã đến động viên, thăm hỏi gia đình bị hại và bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại với số tiền 470.000.000đ nên bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại đã viết đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đang là lao động chính trong gia đình phải nuôi hai con nhỏ ăn học nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát giáo dục cũng đảm bảo mục đích của hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Bị cáo không có chức vụ, không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Chiếc xe môtô BKS 18H1- 061.40 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn T, xe ô tô khách BKS 14B-011.21 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn P. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chị B, xe ô tô cho anh P là phù hợp pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo và bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại đã thoả thuận bồi thường xong về dân sự. Đến nay bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Đối với thiệt hại về tài sản, chị B, ông P xin tự khắc phục và không yêu cầu Lê Văn K phải bồi thường. Do đó, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không cần đề cập giải quyết.
Lê Văn K là phụ xe cho anh rể là Phạm Văn P, sáng ngày 11/7/2018, anh Đinh Văn Bắc là lái xe, điều khiển xe đi cùng K đến cửa hàng cơ khí của anh Bùi Quyết Tiến để sửa chữa. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, K đến cửa hàng của anh Tiến để kiểm tra, thấy xe đã được sửa chữa xong, thấy chìa khóa xe vẫn cắm trên ổ khóa nên K đã tự ý điều khiển xe về, trên đường đi thì xảy ra tai nạn. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh Phạm Văn P và anh Đinh Văn Bắc theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Văn K 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Hải Hậu; - THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - UBND xã Q; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lại Văn Tùng |