- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí H phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phí H phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH HẢI DƢƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HS-ST Ngày: 21/8/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Chuộng
2. Bà Đinh Thị Tin
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền Lương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Phí H (tên gọi khác: B) , sinh năm 1975, Nơi cư trú: khu 2, thị trấn T, huyện M, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phí D, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Vũ C, sinh năm 1938; có vợ Nguyễn H (đã ly hôn), vợ Nguyễn T1 và có hai con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/3/2006, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Hải Dương. Bị cáo hoàn thành chương trình cai nghiện ngày 14/3/2008.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại trại giam C1 – Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 30/3/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Anh Đặng T2, sinh năm 1983. Vắng mặt
2. Anh Vũ T3, sinh năm 1975. Vắng mặt
Đều trú tại: Thôn C2, xã D1, huyện M, tỉnh Hải Dương.
3. Chị Nguyễn T4, sinh năm 1983. Vắng mặt
Trú tại: Thôn X, xã T5, huyện M, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 27/3/2018, Phí H đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Cầu Quay thuộc thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy loại Heroin với giá 300.000đồng, mục đích về để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, H bắt xe ôm đi về nhà. Tại nhà H, H lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại H chia thành các gói nhỏ gói bằng giấy bạc rồi cất giấu trong lọ nhựa để ở nóc tủ sau ti vi tại Phòng khách của nhà H. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đang ở nhà thì có Vũ T3, sinh năm 1975 và Đặng T2, sinh năm 1983, đều trú tại thôn C2, xã D1, huyện M, tỉnh Hải Dương đến gặp H tại phòng khách, T3 hỏi và mua của H 02 gói ma túy với giá 200.000đồng. H đồng ý và lấy 02 gói ma túy để trong lọ nhựa phía sau ti vi của phòng khách nhà H đưa cho T3, và nhận của T3 200.000đồng tiền bán ma túy. Khoảng 14 giờ, cùng ngày khi T3, T2 đi bộ đến khu vực khu 2, thị trấn T, huyện M thì bị Tổ công tác Công an huyện M và Công an thị trấn T trong khi làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện và thu giữ của T3 02 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng. T3 khai đó là 02 gói ma túy loại Heroin, T3 mua của Phí H, mục đích để sử dụng ( Tổ công tác tiến hành niên phong vật chứng đã thu giữ trong phong bì ký hiệu M1).
Hồi 15 giờ 15 phút, ngày 27/3/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phí H, phát hiện và thu giữ: tại nóc tủ phía sau ti vi tại phòng khách 01 lọ nhựa hình trụ tròn, mầu trắng, bên trong có 02 gói giấy bạc đều chứa chất bột dạng cục mầu trắng (được niên phong trong phong bì ký hiệu M2), và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, bên trong có 07 gói giấy, đều chứa chất bột mầu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3); thu ở phía sau khung ảnh treo trên tường trong phòng khách 02 túi nilon bên trong đựng các mẫu thực vật khô (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M4); thu giữ tại đầu giường ở phòng ngủ của H 01 ví giả da mầu nâu bên trong có số tiền 1.070.000đồng, thu trong tủ kính ngoài phòng khách 84 ống thủy tinh, các ống đều có chiều dài khác nhau, một đầu dạng hình cầu. H khai: số tiền 1.070.000đồng có trong ví giả da đã thu giữ, trong đó có 200.000 đồng tiền H bán ma túy cho T3, T2 mà có; 07 gói giấy, chứa chất bột mầu trắng để trong vỏ bao thuốc lá 555 của H là thuốc tân dược loại Paracetamol, mục đích để lừa bán cho các đối tượng nghiện ma túy ( H chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ); 02 gói giấy bạc thu giữ trong lọ nhựa, 02 túi nilon bên trong đựng các thực vật khô và 84 ống thủy tinh, H không biết là của ai.
Tại bản Kết luận giám định số 145/KLGĐ (Đ 6) ngày 28/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận:
+ Chất bột dạng cục mầu trắng (có trong 02 gói giấy bạc thu giữ của T3, mẫu niêm phong ký hiệu M1), gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,0279gam, là loại Heroin.
+ Chất bột dạng cục mầu trắng ( có trong 02 gói giấy bạc thu trong lọ nhựa , quản lý khi khám xét chỗ ở của H, mẫu niêm phong ký hiệu M2), gửi đến giám định có tổng trọng lượng 0,0827 gam, là loại Heroin.
+ Chất bột mầu trắng (có trong 07 gói giấy thu trong vỏ bao thuốc lá 555, quản lý khi khám xét chỗ ở của H, mẫu niêm phong ký hiệu M3), gửi đến giám định có tổng trọng lượng: 0,3938 gam, là Paracetamol(thuốc tân dược) không phải là ma túy.
+ Thực vật khô (gói trong 02 túi nilon, quản lý khi khám xét chỗ ở của H, mẫu niêm phong ký hiệu M4), gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng, 1,7543 gam, là loại cần sa.
Hoàn lại đối tượng sau giám định: 0,1912 gam Paracetamol (thuốc tân dược) và 1,1034 gam thực vật khô cùng toàn bộ vỏ bao bì của mẫu vật được niêm phong theo niêm phong số 145/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.
Đối với người bán ma túy cho H, H không biết người bán ma túy cho mình là ai, cơ quan điều tra không xác định được đối tượng bán ma túy cho H nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, có trọng lượng 0,0279 gam Heroin của Vũ T3. Hành vi của T3 chưa đủ định lượng (bản thân T3 là người chưa có tiền án, tiền sự) nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T3 là phù hợp.
Đối với Đặng T2, quá trình điều tra không xác định được T2 biết việc T3 rủ T2 đi mua ma túy về sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M không xử lý đối với T2 là phù hợp.
Quá trình điều tra, Phí H thừa nhận hành vi bán 02 gói ma túy, cho Vũ T3. Đối với 02 gói giấy bạc thu giữ trong lọ nhựa (là heroin có trọng lượng 0,0827 gam) và 02 túi nilon bên trong đựng các thực vật khô và 84 ống thủy tinh, H không biết là của ai.
Tại bản Cáo trạng số 67/CT - VKSKM ngày 17/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Phí H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Phí H thừa nhận hành vi bán 02 gói ma túy cho Vũ T3; thừa nhận sau khi mua ma túy về bị cáo để hai gói ma túy trong lọ nhựa , nếu ai có hỏi mua thì sẽ bán, xác định nọ nhựa để 02 gói ma túy là của bị cáo, song bị cáo không thừa nhận 02 gói ma túy cất giấu trong lọ nhựa đã thu giữ là của bị cáo, vì bị cáo cho rằng lọ nhựa này bị cáo đã bị thất lạc và không nhìn thấy từ lâu.
- Đại diện VKSND huyện M giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phí H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt bị cáo Phí H từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, 30/3/2018.
Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí Hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện M; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo H chỉ thừa nhận hành vi bán 02 gói ma túy loại Heroin cho Vũ T3, nhằm mục đích kiếm lời, không thừa nhận 02 gói ma túy cất giấu trong lọ nhựa thu giữ khi khám xét chỗ ở là của bị cáo. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án thì thấy: khi H bán ma túy cho T3, T3 và T2 đều xác định thấy H lấy ma túy từ trong lọ nhựa để ở phía sau ti vi tại phòng khách nhà H. Đặc điểm, vị trí lọ nhựa nơi H cất giấu ma túy phù hợp với lời khai của người làm chứng T3 và T2 khi lực lượng chức năng kiểm tra, thu giữ ma túy của T3 cũng như khi khám xét chỗ ở của H. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa H đều thừa nhận lọ nhựa để số ma túy nêu trên là của bị cáo, bị cáo không thừa nhận số ma túy để trong lọ nhựa là của bị cáo vì cho rằng lọ nhựa này bị cáo đã không nhìn thấy từ lâu. Lời phủ nhận này của bị cáo, là không phù hợp với thực tế khách quan, bởi một lẽ trước đó một vài ngày, với mục đích lừa bán ma túy cho các con nghiện khác, bị cáo đã nghiền thuốc tân dược (loại Pracetamol) gói vào 07 gói nhỏ để trong vỏ bao thuốc lá 555, vị trí vỏ bao thuốc lá 555 bị cáo đặt ở nóc tủ phía sau ti vi ( gần với vị trí lọ nhựa nơi bị cáo cất giấu ma túy). Bản thân bị cáo xác định số ma túy bị cáo có được là do, trước đó bị cáo đã xuống khu vực cầu Quay thành phố Hải Phòng mua của một người thanh niên 02 gói ma túy loại Heroin, bị cáo đã bỏ ra sử dụng một ít, số còn lại bị cáo chia thành các gói nhỏ gói bằng giấy bạc, nhằm mục bán kiếm lời, đặc điểm 02 gói ma túy bị cáo bán cho T3 giống với 02 gói ma túy thu giữ tại lọ nhựa khi khám xét chỗ ở của bị cáo (cùng gói trong giấy bạc). Lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng đã thu giữ. Từ những đánh giá phân tích nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/3/2018, tại nhà của Phí H tại khu 2, thị trấn T, huyện M, tỉnh Hải Dương, Phí H đã có hành vi bán trái phép 02 gói Heroin, có trọng lượng là 0,0279 gam cho Vũ T3, sinh năm 1975 ở thôn C2, xã D1, huyện M, tỉnh Hải Dương với giá 200.000đồng, ngoài ra bị cáo còn cất giấu 02 gói Heroin có trọng lượng 0,0827 gam nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm mất phẩm giá con người, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và đã có thời gian đi cai nghiện nên hơn ai hết bị cáo biết rất rõ về tác hại của ma túy và là chất mà Nhà nước cấm mua bán. Song vì muốn có tiền từ việc làm bất hợp pháp nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Trong vụ án này, ngoài hành vi phạm tội đã được chứng minh, bị cáo còn có hành vi lấy thuốc tân dược nghiền nhỏ, gói thành 07 gói, giống với gói ma túy nhằm mục đích lừa bán cho các con nghiện khác. Động cơ, mục đích mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là rất rõ ràng và có sự chủ định, tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo chưa nhận thức được sai phạm của mình, tiếp tục khai báo quanh co. Do vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Đối với số thực vật khô ( thực vật khô đựng trong 02 túi nilon, thu giữ khi khám xét chỗ ở của H) có trọng lượng 1,7543 gam, là loại cần sa. Quá trình điều tra, xác minh, không xác định được là của ai. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M tiếp tục điều tra xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, có trong lượng 0,0279 gam Heroin của Vũ T3. Hành vi của T3 chưa đủ định lượng (bản thân T3 là người chưa có tiền án, tiền sự) nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M ra quyết định xử phạt hành chính đối với T3 là phù hợp.
Đối với Đặng T2, quá trình điều tra không có căn cứ xác định T2 biết việc T3 rủ T2 đi mua ma túy về sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M không xử lý đối với T2 là phù hợp.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận một phần hành vi phạm tội nên xem xét áp dụng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hình phạt bổ sung:Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy thu giữ trong vụ án, chất bột mầu trắng (mẫu M1) có trọng lượng 0,0279 gam và chất bột mầu trắng (của mẫu M2) có trọng lượng 0,0827 gam, đều là Heroin. Mẫu hoàn lại sau giám định: “không” nên không đặt ra xử lý.
- Đối với chất bột mầu trắng (mẫu M3), là Paracetamol (thuốc tân dược), mẫu hoàn lại sau giám định 0,1912 gam cùng vỏ bao bì được niêm phong cùng trong bì thư số 145/2018/PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Xác định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- Thực vật khô (mẫu M4), là loại cần sa. Mẫu hoàn lại sau giám định có trọng lượng 0,1912 gam, được niêm phong cùng trong bì thư số 145/2018/PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Tiếp tục giao số mẫu vật chứng này cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M để phục vụ công tác điều tra.
- Đối với số tiền 1.070.000 đồng thu tại ví của bị cáo, trong đó xác định 200.000đồng tiền bị cáo H bán ma túy cho T3 mà có. Do vậy, cần tịch thu của bị cáo số tiền 200.000đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 870.000 đồng, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo, song bảo thủ số tiền này để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
- Đối với 01 ví giả da mầu nâu (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo xin lại chiếc ví. Xét thấy, chiếc ví là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- Đối với 84 ống thủy tinh có chiều dài khác nhau; 01 lọ nhựa; 01 vỏ bao thuốc lá 555. Bị cáo không có ý kiến gì về các tài sản bị thu giữ, xác định không có giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào:khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tuyên bố: Bị cáo Phí H phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phí H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 30/3/2018.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy chất bột mầu trắng, là mẫu hoàn lại sau giám định (của mẫu M3), là Paracetamol (thuốc tân dược) có tổng trọng lượng 0,1912 gam và mẫu vỏ, được niêm phong trong cùng bì niêm phong số 145/2018/PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.
- Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M số thực vật khô (của mẫu M4), là loại cần sa. Mẫu hoàn lại sau giám định có trọng lượng 1,1034 gam, được niêm phong cùng trong bì niêm phong số 145/2018/PC54 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng để phục vụ cho công tác điều tra, xác minh.
- Tịch thu của bị cáo H số tiền 200.000đồng (tiền do bị cáo phạm tội mà có), để nộp vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho bị cáo H số tiền 870.000 đồng, song bảo thủ của bị cáo để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo H 01 ví giả da mầu nâu (đã qua sử dụng).
- Tịch thu và tiêu hủy 84 ống thủy tinh, những ống có chiều dài khác nhau; 01 lọ nhựa hình trụ mầu trắng (đã qua sử dụng); 01 vỏ bao thuốc lá 555.
(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/7/2018 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện M).
- Án phí: Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phí H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKS nhân dân huyện M; - Trại tạm giam C1 – CA tỉnh HD; - Công an huyện M; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |