- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HS-ST Ngày 27/7/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Trọng Tiến.
Ông Hoàng Văn Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Dương Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 đối với:
Bị cáo Lê Trọng T; sinh ngày 14 tháng 10 năm 1999 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn 8, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trọng Th và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2018 đến nay. Có mặt.
Người liên quan: Anh Nguyễn Trọng T, sinh ngày 03/11/2000.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị X, sinh năm 1974 (Mẹ đẻ của anh T).
Trú tại: thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h30’ ngày 03/4/2018, Đội điều tra phòng chống ma túy Công an Hoằng Hóa phối hợp với Ban Công an xã T đang làm nhiệm vụ tại khu vực xã T phát hiện đối tượng đi xe biển số 36AA-117.34 dừng lại để kiểm tra, khi bị dừng kiểm tra, Lê Trọng T liền ném 02 gói nilon màu trắng kích thước (1,5 x 2) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng thì bị tổ công tác phát hiện thu giữ, tiến hành niêm phong kí hiệu M1 và kiểm tra thu giữ ở túi quần bên phải phía trước của T 01 gói nilon màu trắng kích thước (1,5 x 2) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng niêm phong kí hiệu M2. Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở số 36 ngày 03/04/2018 Cơ quan điều tra Công an Hoằng Hóa không thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 742/MT- PC 54 ngày 06/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 02 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5x2) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (T ném xuống đất) có khối lượng 0,3 gam loại Methamphetamine;
- 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (1,5x2) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng thu trong túi phía trước của T có khối lượng 0,106 gam loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Trọng T khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 21h ngày 31/3/2018, T một mình từ nhà ra ngã tư xã L, huyện H đi xe ôm (của người đàn ông không quen biết) lên khu vực khách sạn LK thành phố T mua 02 gói Methamphetamine với giá 700.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó về chia làm 04 gói, T sử dụng 01 gói, còn lại 03 gói T cất dấu trong người. Đến ngày 03/4/2018 T mượn xe môtô ESPERO biển số 36AA-11734 của anh Nguyễn Trọng T ở thôn L, xã L, huyện H để đi. Khi T đi đến khu vực thôn 1, xã T đoạn đường DH16 gần cây xăng X thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra, T sợ nên đã ném 02 gói xuống đất và để trong túi 01 gói thì bị phát hiện bắt quả tang.
Đối với chiếc xe môtô ESPERO màu xanh ngọc, biển số 36AA-11734 của Nguyễn Trọng T cho Lê Trọng T mượn để đi lại do anh T không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hoằng Hóa đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T, anh T nhận đủ tài sản và không có ý kiến gì. Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Trọng T, do T không biết tên và địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKSHH ngày 25 tháng 6 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Lê Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận hành vi đã mua ma túy về chia nhỏ thành nhiều gói để sử dụng, sau khi đã sử dụng 01 gói, số còn lại cất dấu trong người và ngày 03/4/2018 khi đang đi trên đường tại khu vực cây xăng xã T bị bắt. Số ma túy thu giữ giám định có tổng khối lượng 0,406 gam, loại Methamphetamine. Do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Trọng T từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 21h ngày 31/03/2018, Lê Trọng T từ nhà ở xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đi xe ôm lên khu vực khách sạn LK thuộc thành phố T mua 2 gói ma túy với giá 700.000 đồng, đem về nhà chia nhỏ thành 4 gói nhỏ, sử dụng 01 gói, còn lại 03 gói. Sáng ngày 03/04/2018, Lê Trọng T gặp Nguyễn Trung T ở xã L, huyện H mượn chiếc xe môtô biển kiểm soát 36AA-117.34 nói là đi có việc. Do quen biết nên T giao xe cho T, khi T đi đến khu vực cây xăng X thuộc xã T, huyện H thì bị tổ công tác Công an huyện Hoằng Hóa kiểm tra, bắt và thu giữ 0,406 gam ma túy niêm phong để trưng cầu giám định.
Kết luận giám định số 742/MT-PC54 ngày 06/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,300g, loại Methamphetamine. Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,106g, loại Methamphetamine.
Hành vi cất dấu trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Lê Trọng T đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết cách ly khỏi xã hội mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.
Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó áp dụng các quy định của khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về vật chứng: Chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy 0,372 gam số ma túy còn lại sau giám định hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.
Đối với chiếc xe môtô ESPERO, biển số 36AA-11734 của anh Nguyễn Trọng T cho Lê Trọng T mượn để đi, do anh Tuấn không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hoằng Hóa đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T là đúng với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trọng T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 03/4/2018.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,372g Methamphetamine còn lại sau giám định (Theo phong bì niêm phong số 742/MT-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa tại biên bản giao nhận vật chứng số 66/BBGN ngày 27/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Trọng T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh Hóa. - VKSND huyện Hoằng Hóa. - Công an huyện Hoằng Hóa. - Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa. - Chi cục THA dân sự huyện Hoằng Hóa. - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Ngọc Thắng |