vanban.org

Bản án 67/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễ n Minh D đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thi ̣ Minh P.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh D - Nguyễn Thị Minh P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễ n Minh D đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thi ̣ Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 67/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Phú Tâm;

Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2018/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh D , sinh năm 1988; thƣờng trú : Số 51/8C, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1997; thƣờng trú: Số 7/5, khu phố Đ, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 3 năm 2018, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ á n, nguyên đơn anh Nguyễn Minh D trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễ n Minh D và chị Ng uyễn Thi ̣ Minh P tƣ̣ nguyện chung sống, tổ chƣ́ c đám cƣớ i và đăng ký kết hôn theo giấy chƣ́ ng nhâ ̣n kết hôn số 162/2017, tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh B vào ngày 16 tháng 8 năm 2017.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ta ̣i đ ịa chỉ 51/8C, khu phố Đ , phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B đƣợc 03 tháng thì chị P tƣ̣ ý do ̣n về nhà me ̣ vợ sống cho đến nay . Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thƣờ ng x uyên cải nhau , bất đồng quan điểm dẫn đến tinh cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng đa ̃

̀ sống ly t hân hơn 06 tháng. Nay anh D xác định tình cảm vợ chồng với chị P không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với chị P.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Minh P đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý , triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 14/5/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 30/5/2018 và 15/6/2018 nhƣng chị Nguyễn Thị Minh P vắng mặt không có lý do.

Ngày 10/5/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa anh Nguyễn Minh D và và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Minh P tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Anh D và chi ̣ P là vợ chồng, cùng chung sống tại số 51/8C, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B đƣợc khoảng 04 tháng thì bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tƣ̀ khi anh D , chị P sống cùng nhau , đi ̣a phƣơng không nghe trinh

̀ báo gì về mâu thuẫn giƣ̃a hai vợ chồng anh chi ̣.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến nhƣ sau: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Anh Nguyễn Minh D có đơn yêu cầu giải quyết về tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị với chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Minh P, chị P có địa chỉ thƣờng trú tại phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Sự có mặt của đƣơng sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị Minh P đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng chị P vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh D và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Minh P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 162/2017 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã D, tỉnh B vào ngày 16 tháng 8 năm 2017 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định vợ chồng chỉ sống cùng nhau đƣợc khoảng 03 tháng nhƣng thƣờ ng xuyên cả i nhau, tính tình không hợp nên chi P dọn về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng đã sống ly thân hơn 06 tháng. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phƣơng, chính quyền địa phƣơng xác định chị P không còn sống cùng anh D mà dọn về nhà mẹ đẻ ở . Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu chi ̣ P có mặt tại Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng chị P không đến. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh D và chi ̣ P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên cả hai không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh D là có căn cứ chấp nhâ ̣n, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh D phải chịu án phí theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễ n Minh D đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thi ̣ Minh P.

2. Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃

chung về tài sàn (nợ chung): Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

4.Về án phí dân sƣ̣ sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh D chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019053 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Cỡ chữ