- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lý Thị kim H Ly hôn với ông Huỳnh Minh Hg."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H; bà Lý Thị kim H được ly hôn với ông Huỳnh Minh Hg.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2018 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tỉnh
2. Ông Ngô Tiến Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hg Hà Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hg Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NT xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 1338/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị Kim H sinh ngày 10/9/1990; địa chỉ: Số 27 V, Khu phố 7, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Minh Hg sinh ngày 27/3/1982; địa chỉ: Tổ 7 L, phường N, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H trình bày: Bà và ông Huỳnh Minh Hg tự nguyện kết hôn vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông Hg luôn xảy ra mâu thuẫn; ông Hg thường xuyên đánh đập bà; cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Mặc dù hai vợ chồng đã cố gắng để cùng nhau giải quyết mâu thuẫn nhiều lần nhưng không được. Bà và ông Hg đã sống ly thân từ tháng 10/2014 cho đến nay; ông Hg sống ở tổ 7 L, phường N, thành phố NT, còn bà về nhà mẹ đẻ ở Ninh Thuận. Từ tháng 10/2017 đến tháng 11/2017, ông Hg có đến nơi bà sinh sống gây rối và bà có mời công an đến làm việc và ông Hg đã bỏ về lại NT. Bà nhận thấy không còn tình cảm với ông Hg, nếu kéo dài cuộc sống như vậy sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bà và con của bà nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hg.
- Về con chung: Giữa bà và ông Huỳnh Minh Hg có 01 con chung là cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 13/9/2012. Hiện nay cháu T đang ở với bà; khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và bà không yêu cầu ông Hg phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là ông Huỳnh Minh Hg: Tòa án đã nhiều lần triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Huỳnh Minh Hg vẫn cố tình vắng mặt. Hồ sơ không thể hiện được lời khai của bị đơn.
Phát biểu tại phiên tòa, Kiểm sát viên xác định:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự tố tụng của vụ án; các đương sự đều đã được đảm bảo thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Xét mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn; đối với vấn đề nuôi con chung, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giao con chung là cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 13/9/2012 cho bà Lý Thị Kim H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Lý Thị Kim H không yêu cầu, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông Huỳnh Minh Hg; đối với vấn đề tài sản chung, do nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, nhưng ông Huỳnh Minh Hg cố tình vắng mặt. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về các phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Kim H và ông Huỳnh Minh Hg tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60 quyển số I/2012 ngày 05/7/2012; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H thì trong quá trình chung sống, giữa bà và bị đơn là ông Huỳnh Minh Hg luôn xảy ra mâu thuẫn; ông Hg thường xuyên đánh đập bà; hai bên đã cố gắng để cùng nhau giải quyết mâu thuẫn nhiều lần nhưng không được. Bà và ông Hg đã sống ly thân từ tháng 10/2014 cho đến nay. Hiện nay, nhận thấy không còn tình cảm với ông Hg, nếu kéo dài cuộc sống như vậy sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bà và con của bà nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hg.
Trên cơ sở lời trình bày của nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H và kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Lý Thị Kim H và ông Huỳnh Minh Hg đã đến mức mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc sống gia đình cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử cũng xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn là ông Huỳnh Minh Hg vẫn cố tình vắng mặt, không đến Tòa án để làm việc; điều này thể hiện bị đơn là ông Huỳnh Minh Hg không có thiện chí hàn gắn tình cảm với nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị Kim H là chính đáng, có cơ sở nên cần chấp nhận.
[3] Về con chung: Theo lời khai và các tài liệu do Lý Thị Kim H cung cấp thì giữa bà và ông Huỳnh Minh Hg có 01 con chung là cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 13/9/2012. Hiện nay cháu T đang ở với bà Lý Thị Kim H; khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và bà không yêu cầu ông Hg phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; trên cơ sở sự tự nguyện của bà H, xét thấy việc giao cho bà H nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Huỳnh Thanh T là hợp lý và phù hợp quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T; đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Lý Thị Kim H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Lý Thị Kim H; bà Lý Thị kim H được ly hôn với ông Huỳnh Minh Hg.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 13/9/2012. Giao cho bà Lý Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Huỳnh Thanh T. Bà Lý Thị Kim H không yêu cầu ông Huỳnh Minh Hg phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Huỳnh Minh Hg được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà H, ông Hg đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Lý Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007861 ngày 20/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa. Bà Lý Thị Kim H đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Lý Thị Kim H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; ông Huỳnh Minh Hg vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố NT; - Chi cục THADS thành phố NT; - UBND thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đoà n Tuấ n Anh |