vanban.org

Bản án 67/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết V đối với ông Huỳnh Văn T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết V được ly hôn với ông Huỳnh Văn T. 2/ Về nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Thu N, sinh ngày 15/4/2011 và Huỳnh Mỹ K, sinh ngày 11/10/2016 cho bà Lê Thị Tuyết V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Huỳnh Văn T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con 695.000đ/tháng. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Tuyết V - Huỳnh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết V đối với ông Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15/10/2018
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Vân

2/ Ông Trần Văn Nhị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X: Bà Nguyễn Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 196/2018/TLST-HNGĐ, ngày 06/8/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11/9/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tuyết V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp BM, xã ML, huyện X, tỉnh Long An.

* Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1982. Hộ khẩu thường trú: Ấp VK, xã BA, huyện X, tỉnh Long An.

Chỗ ở hiện nay: Ấp BM, xã ML, huyện X, tỉnh Long An.

(Bà V có mặt, ông T vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết V trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Do quen biết nên bà và ông T tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 09/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện X, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau, ông T không chăm lo cho gia đình, từ đó thường xuyên cự cãi, xung đột mẫu thuẫn với nhau ngày càng nghiêm trọng không thể hàn gắn được. Bà và ông T đã sống ly thân được 3 tháng.

Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Huỳnh Thu N, sinh ngày 15/4/2011 và Huỳnh Mỹ K, sinh ngày 11/10/2016. Hiện tại, các con đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi mỗi con 695.000đ/tháng. Bà đang mở tiệm uốn tóc thu nhập khoảng 6.000.000đ/tháng đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Huỳnh Văn T trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà V, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V về việc xin ly hôn và nuôi con chung đối với ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Tuyết V nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn T. Ông T cư trú tại xã ML, huyện X, tỉnh Long An, nên Tòa án nhân dân huyện X thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28 và Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Văn T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung:

Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, bị đơn không đến Tòa để trình bày ý kiến, không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà V là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án trên những chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án xác định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Do quen biết nên bà Lê Thị Tuyết V và ông Huỳnh Văn T tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện X, tỉnh Long An ngày 09/3/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T không có chăm lo cho gia đình, từ đó thường xuyên cự cãi, xung đột mẫu thuẫn với nhau ngày càng nghiêm trọng không thể hàn gắn được. Bà V và ông T đã sống ly thân được hơn 3 tháng.

Xét thấy, bà V kiên quyết xin ly hôn với ông T. Ông T không có bất kỳ giải pháp nào để hàn gắn và không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà V, ông T là trầm trọng nên yêu cầu xin ly hôn của bà V phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thu N, sinh ngày 15/4/2011 và Huỳnh Mỹ K, sinh ngày 11/10/2016. Các con đang sống với bà V. Sau khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi mỗi con 695.000đ/tháng.

Xét thấy, 2 con chung của bà V, ông T đang sống với bà V vẫn phát triển bình thường. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, tránh việc thay đổi hoàn cảnh sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ, nên yêu cầu này của bà V có căn cứ chấp nhận. Ông T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con 695.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng là từ tháng 10/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông Huỳnh Văn T được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, thì một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung, tài sản chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà V là có căn cứ chấp nhận toàn bộ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X.

Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tuyết V đối với ông Huỳnh Văn T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tuyết V được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

2/ Về nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Thu N, sinh ngày 15/4/2011 và Huỳnh Mỹ K, sinh ngày 11/10/2016 cho bà Lê Thị Tuyết V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Huỳnh Văn T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con 695.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng là từ tháng 10/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông Huỳnh Văn T được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, thì một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí: Bà Lê Thị Tuyết V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003670, ngày 30/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Long An. Bà Lê Thị Tuyết V không phải nộp thêm. Ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử sơ thẩm, bà Lê Thị Tuyết V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ