vanban.org

Bản án 67/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T, buộc Lê Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền 39.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Thảo-Trang"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T, buộc Lê Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền 39.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ K
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/DS-ST
Ngày: 15 – 11 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngọc Anh.

Bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kho - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2018/TLST-DS, ngày 25 tháng 7 năm 2018 và thụ lý bổ sung số 111a/2018/TLST-DS, ngày 25 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2018/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp 2, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1972.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thạch Văn A (chồng bà Lê Thị T1), sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Bà T có mặt; bà T1 và ông A vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Trần Thị Thanh T trình bày: Vào ngày 30 tháng 7 năm 2017, bà T đã cho bà T1 vay số tiền 41.000.000 đồng. Mục đích bà T1 vay tiền của bà T để đóng hụi chết nhưng bà T1 có đóng hụi chết hay không bà T không biết. Khi bà T giao 41.000.000 đồng cho bà T1 thì chỉ có bà T1 viết, ký biên nhận nợ. Khi vay, bà T1 không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà T. Sau đó, bà T1 có trả cho bà T được tiền vay gốc 2.000.000 đồng. Bà T chỉ khởi kiện bà T1, không khởi kiện ông A vì ông A không có liên quan đến khoản nợ này nên không yêu cầu ông A trả nợ cho cho bà T. Nay bà T xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay gốc 39.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã tống đạt hợp lệ cho bà T1 và ông A nhưng bà T1 và ông A không đến tham dự các phiên hòa giải theo quy định pháp luật. Đồng thời, bà T1 và ông A cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về việc bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của bà T. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Kho - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định như việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo các Điều 48, 49, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách những người tham gia tố tụng, việc gửi hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng pháp luật, trong xét xử đảm bảo cho các bên thực hiện quyền tranh luận và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, về nội dung vụ việc: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa thì có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện bà T, chỉ buộc bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà T số tiền gốc 39.000.000 đồng; buộc bà T1 phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 39.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản, bị đơn là bà T1 có địa chỉ tại ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bà T1 và ông A tại phiên tòa: Bà T1 và ông A đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà T1 và ông A vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và ông A là phù hợp theo các Điều 177, 179, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà T số tiền vay gốc 39.000.000 đồng là có chứng cứ chứng minh thể hiện qua biên nhận ngày 30 tháng 7 năm 2017 do bà T1 viết, ký nhận nợ. Đồng thời, bà T chỉ khởi kiện yêu cầu bà T1 trả nợ, không khởi kiện yêu cầu ông A có nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và yêu cầu khởi kiện của bà T là chỉ buộc bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà T số tiền gốc 39.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T1 phải có nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 39.000.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước; bà T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 177, 179, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; các Điều 3, 6, 24, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T, buộc Lê Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền 39.000.000 đồng (ba mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

2.1 Án phí của vụ án là 1.950.000 đồng (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Buộc Lê Thị T1 phải có nghĩa vụ chịu 1.950.000 đồng (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

2.2 Hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thanh T 975.000 đồng (chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0006850 ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt đương sự, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ