vanban.org

Bản án 67/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N. Buộc bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Tấn K có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho chị Lê Tuyết N 82.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị N cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà S và ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị S và ông Lâm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chị Lê Tuyến N tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lâm Tấn K, bà Võ Thị S"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N. Buộc bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Tấn K có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho chị Lê Tuyết N 82.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2018/DS-ST
Ngày 21-8-2018
V/v tranh chấp hợp đồng hụi
và hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc.

Ông Huỳnh Minh Giới.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Bổng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2018/TLST - DS ngày 09 tháng 5 năm 2018 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2018/QĐXXST – DS ngày 11 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Lê Tuyết N, sinh năm 1972 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp ĐB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn:

+ Ông Lâm Tấn K, sinh năm 1963 (vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Thị S (Nguyễn Út S), sinh năm 1967 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp ĐB, xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/5/2018 và tại phiên tòa N đơn chị Lê Tuyết N trình bày: Vào ngày 26/8/2013 bà Nguyễn Thị S có tham gia chơi 01 chân hụi do chị làm chủ đầu thảo, hụi 2.000.000 đồng gồm 26 chân, bà S hốt hụi xong và nợ lại chị 14 kỳ hụi chết (từ ngày 26/9/2014 đến ngày 26/9/2015 mãn hụi) bằng 28.000.000 đồng.

Ngày 19/10/2015 bà S hỏi mượn của chị số tiền 18.000.000 đồng và ngày 28/12/2015 bà S hỏi mượn 36.000.000 đồng, thỏa thuận khi nào vợ chồng bà S cố đất sẽ trả lại cho chị nhưng không thực hiện. Đến ngày 20/02/2016 bà S có làm cho chị 01 biên nhận nhận thiếu chị 82.000.000 đồng và hứa hẹn trả hàng tháng bằng 10.000.000 đồng nhưng vẫn không thực hiện. Đến nay, tài sản đang chuẩn bị phát mãi để thi hành án trả cho người khác và chị có nói với bà S sẽ khởi kiện ra Tòa án nhưng vợ chồng bà S không có ý kiến gì. Nay chị khởi kiện yêu cầu bà S cùng chồng là ông Lâm Tấn K có nghĩa vụ trả lại cho chị 82.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, ông K và bà S được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải và xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K và bà S là có căn cứ.

Theo chị N xác định, chị đã lắp hụi cho bà S đến mãn hụi với số tiền 28.000.000 đồng nên khởi kiện đòi lại và đòi lại 54.000.000 đồng tiền cho mượn vào ngày 19/10/2015 và ngày 28/12/2015. Chứng cứ chị N cung cấp là 01 biên nhận đề ngày 20/02/2016 thể hiện nội dung: “Tôi Nguyễn Út S tôi có nhận thiếu tiền hụi của chị Tuyết N số tiền là: 82.000.000đ (tám mươi hai triệu) Tuyết N cho tôi thiếu lại tới đầu tháng năm/năm hai ngàn mười S/ Bắt đầu trả cho Tuyết N theo hàng tháng theo thỏa thuận của chị em niếu tôi có điều kiện thì tôi trả một tháng 10 triệu, người nhận: Nguyễn Út S”. Khi chị N khởi kiện tại Tòa án đòi lại 82.000.000 đồng thì ông K và bà S biết nhưng cho đến nay không có ý kiến phản bác yêu cầu khởi kiện của N đơn, cũng như không phản bác chứng cứ chị N nộp cho Tòa án. Điều này cho thấy bà S và ông K chấp nhận còn nợ tiền hụi, tiền mượn đúng như nội dung N đơn khởi kiện. Do đó, việc chị N khởi kiện đòi lại 82.000.000 đồng là có căn cứ được chấp nhận.

Xét nghĩa vụ trả nợ của ông K thì thấy rằng: Tại biên bản đương sự không nhận quyết định hoãn phiên tòa ngày 17/8/2018, ông K xác định là nợ của bà Nguyễn Thị S, ông không biết số nợ này nên không đồng ý theo khởi kiện của N đơn. Tuy nhiên, thực tế mối quan hệ hôn nhân giữa ông K và bà S đang tồn tại, kinh tế vẫn sử dụng chung trong gia đình. Như vậy, số nợ trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, tài sản tạo ra thu nhập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung thì nợ trong thời kỳ hôn nhân cũng là nợ chung. Do đó, ông K là chồng bà S phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho chị N là có căn cứ.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn nên bị đơn phải chịu án phí

-2-

dân sự sơ thẩm số tiền bằng 4.100.000 đồng (82.000.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 474 và Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N. Buộc bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Tấn K có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho chị Lê Tuyết N 82.000.000 đồng (Tám mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị N cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà S và ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị S và ông Lâm Tấn K phải chịu 4.100.000 đồng. Chị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho chị N 2.050.000 đồng tiền dự nộp theo biên lai số 0008125 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ