vanban.org

Bản án 67/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 11/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15.000.000đ mười lăm triệu đồng ). Bị cáo nộp tiền phạt một lần trong thời hạn 1 tháng kể t ngày bản án c hiệu lực pháp luật. Kể t ngày bản án c hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm nộp tương ứng với thời gian chậm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 1 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67 /2017/HSST
Ngày: 11-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đăng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Ngọc Thành

2. Ông Nguyễn Văn Thẩm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Luyện – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2017/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

HOÀNG VĂN T- sinh năm 1980

Nơi ĐKHKTTvà chỗ ở : Thôn N, xã Đ, huyện H ; tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Bố đẻ: Ông Hoàng Văn T đã chết .

đẻ: Bà Hoàng Thị Tr – sinh năm 1951; Vợ: chị Phạm Thị K – sinh năm 1979; on: 2 con, lớn sinh năm 2002; nh sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: hưa. Bị cáo bị tạm gi t ngày 01/ /2017 đến ngày 0 / /2017; Hiện tại ngoại

mặt .

Người làm chứng: 1. Anh Phạm Văn O – Sinh 1980 Vắng mặt

2. Anh Phạm Văn – Sinh 1987 Vắng mặt

Đều trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và quá trình xét h i, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Hoàng Văn T làm nghề bán bia tại nhà ở của mình tại thôn B, xã Đ, huyện H. Do muốn c thêm thu nhập, T đã đánh bạc bằng hình thức bán “ số lô, số đề” cho người khác. Hình thức ghi “số lô, số đề” như sau:“Số đề và số đề ba càng” là người chơi b tiền ra mua một số tự nhiên bất kỳ gồm hai hoặc ba ch số, sau đ so với hai hoặc ba số cuối của giải đặc biệt của kết quả x số kiến thiết iền Bắc mở thưởng cùng ngày, nếu trùng nhau thì người chơi được nhận số tiền tương ứng theo tỷ lệ 1000đ x 00 lần đối với “số đề ba càng”, 1.000đ x 80 lần đối với “số đề”. “Số lô” là người chơi b tiền ra mua một số tự nhiên bất kỳ gồm hai ch số, nếu đánh lô thường thì so với 8 giải gồm 27 lần quay của kết quả x số kiến thiết iền Bắc mở thưởng cùng ngày, khi số người chơi mua trùng với hai số cuối của 8 giải thì người chơi được nhận số tiền tương ứng theo tỷ lệ: 1 điểm lô 20.000đ x 80.000 số người chơi mua trùng nhiều giải được lĩnh đầy đủ theo tỷ lệ trên . “Số lô xiên hai và xiên ba” là người chơi tự chọn 2 và 3 số tự nhiên gồm hai ch số bất kỳ gọi là cặp , khi cặp số của người chơi mua trùng với hai số cuối của 8 giải thì người chơi được nhận số tiền tương ứng theo tỷ lệ: 1000đ x 10 lần đối với lô xiên hai và 1.000đ x 0 lần đối với lô xiên ba. Khi mua “số lô” thì người chơi phải mua thấp nhất là 1 điểm tương ứng với 20.000đ , không hạn chế số tiền mua “số lô, số đề” tối đa.

Khoảng 17 giờ ngày 01/ /2017 T đang ở quán thì c Phạm Văn O và Phạm ạnh H đến uống bia. Khoảng 5 phút sau thì O h i T “ c bán số đề không?” T trả lời c . Sau đ T lấy giấy bút ghi theo yêu cầu của O vào một mảnh giấy c kích thước 08 x 05cm cáp đề trên mặt giấy c ghi lô: 00 x 1000, đầu 2 x 0, đầu 0 x 20, đề 22 x 200, t ng số tiền 1.800.000đ rồi đưa cho O, O cầm lấy cáp đề và đưa số tiền 1.800.000đ cho T. Thấy vậy H bảo T bán cho mình số lô vào mảnh giấy c kích thước 08 x 05 cm cáp đề trên mặt giấy c ghi đầu 2 x 100, đầu 8 x 100, L1: 57/1000, 257/200, t ng số tiền 3200.000đ rồi đưa cho H, H cầm lấy cáp đề rồi đưa tiền cho T. Khi H đưa tiền cho T thì bị t tuần tra lực lượng công an huyện Thanh Hà phối hợp với công an xã Hợp Đức bắt quả tang.

Tang vật thu gi gồm: 02 cáp đề trên tay H và O, 01 bút bi màu đen nhãn hiệu Thiên Long, 01 quyển vở nhãn hiệu Hải Tiến bên trong c ghi các số tự nhiên và số tiền 5.000.000đ.

Qua đối chiếu bảng ghi số lô số đề với th a thuận t trước, nếu không bị phát hiện thì T được hưởng lợi 5.000.000đ

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 01/ /2017, tại nhà ở của Hoàng Văn T , T đang ghi số lô, số đề cho Phạm Văn O, Trần ạnh H với t ng số tiền 5.000.000đ thì bị phát hiện bắt gi .

Tại cáo trạng số 68/CT- VKS ngày 20-07-2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà gi quyền công tố tại phiên tòa vẫn gi nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều ; Điều 30 ; Điểm b khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự 1999; Điểm a khoản 2 Điều 7 ; Điều 99 BLTTHS; NQ 32 để xử phạt bị cáo t 14 đến 15 triệu đồng. Về hình phạt b sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 5.000.000đ; trả điện thoại cho T; hủy b vật chứng còn lại. Án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo n i lời sau cùng xin giảm nh hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan điều tra ông an huyện Thanh Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng O, H, M; vật chứng thu gi và các tài liệu chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 01/ /2017, tại nhà ở của Hoàng Văn T , T đang đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Phạm Văn O, Trần ạnh H thì bị phát hiện bắt gi . Thu gi số tiền 5.000.000đ dùng vào việc đánh bạc.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, c căn cứ pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người c đủ năng lực trách nhiệm hình sự mặc dù bị cáo nhận thức được là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Cần c mức án tương xứng đủ tác dụng giáo dục, phòng ng a chung.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, đánh bạc với số tiền không lớn ở mức khởi điểm của tội phạm, chưa c tiền án tiền sự, c nơi cư trú rõ ràng, c nhiều tình tiết giảm nh nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Hình phạt b sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Khoản tiền 5.000.000đ là tiền bị cáo và O, H dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. 2 cáp đề đã được lưu tại hồ sơ; Điện thoại di động OPPO A51W chưa đủ căn cứ chứng minh T dùng làm phương tiện trong việc đánh bạc với người tên nên trả lại cho bị cáo. ác vật chứng còn lại như bút bi, quyển vở không còn giá trị sử dụng cần tịch thu hủy b .

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 32 /201 /UBTVQH ngày 30-12-201 ; Luật phí và lệ phí năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 2 8; điểm h, p khoản 1 Điều ; khoản 1, Điều 30 Bộ luật hình sự1999.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15.000.000đ mười lăm triệu đồng ). Bị cáo nộp tiền phạt một lần trong thời hạn 1 tháng kể t ngày bản án c hiệu lực pháp luật.

Kể t ngày bản án c hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm nộp tương ứng với thời gian chậm nộp. Lãi suất phát sinh do chậm nộp tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự; Điểm c, đ khoản 2 Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 5.000.000đ sung quỹ nhà nước. Trả bị cáo T 1 điện thoại di động OPPO A51W. Tịch thu cho hủy b bút bi, quyển vở Hải Tiến. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng gi a cơ quan SĐT ông an huyện Thanh Hà và hi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà ngày).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 32 /201 /UBTVQH ngày 30-12-2016; Luật phí và lệ phí năm 2015: Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều , 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ