vanban.org

Bản án 67/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U, Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị L, sửa bản án sơ thẩm như sau: Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị L tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U, Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67 /2017/HSPT
Ngày: 14/8/2017
“Về hành vi đánh bạc”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đình Hân.

Các Thành viên: Ông Nguyễn Mạnh Cƣờng

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vụ, Thƣ ký viên TAND tỉnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Yến, KSV.

Ngày 14 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dƣơng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2017/HSPT ngày 25/7/2017 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2017/HSST ngày 13/6/2017 của TAND huyện Gia Lộc, do bị cáo có kháng cáo sau đây:

Đỗ Thị L, sinh năm 1962.

Nơi cƣ trú: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dƣơng.

Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 7/12 - Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Con ông Đỗ Văn H và bà Vũ Thị N ( Đều đã chết).

Chồng là Bùi Văn V, sinh năm 1958, có hai con, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1996.

Nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, bị tạm giữ từ ngày 23/2 đến 25/02/2017. Hiện tại ngoại, có mặt.

Khúc Văn U, sinh năm 1987

Nơi cƣ trú: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dƣơng.

Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Khúc Văn S và bà Nguyễn Thị G.

Vợ Nguyễn Thị P, sinh năm 1991, có một con sinh năm 2012.

Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.

Nhân thân: Bị cáo bị quản lý sau cai nghiện từ ngày 14/3/2014 đến 14/3/2016, bị tạm giữ từ ngày 23/2 đến 25/02/2017. Hiện tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra, còn 05 bị cáo đồng phạm không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 21h ngày 22/02/2017, Phạm Thế D, Phạm Văn Q, Khúc Văn Z lần lƣợt đến nhà anh Bùi Văn Y chơi và ngồi uống nƣớc với Đỗ Thị L là mẹ kế anh Y (vợ chồng anh Y không có nhà). L nói với mọi ngƣời “ Có làm tí không”, ý đánh bạc nên tất cả đồng ý, L lấy một bộ bài tú lơ khơ rồi cùng mọi ngƣời lên gác tầng hai nhà anh Y để đánh bạc bằng hình thức đánh liêng, mức đánh thấp nhất 10.000đ và cao nhất không quá 50.000đ. Khoảng 22h30’ lần lƣợt có Khúc Văn U, Bùi Văn E, Phạm Văn X đến, cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 0h15’ ngày 23/02/2017, Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã Toàn Thắng phát hiện bắt quả tang các đối tƣợng đang có hành vi đánh bạc, thu giữ số tiền 10.550.000đ và 52 quân bài là dụng cụ đánh bạc.

Quá trình điều tra Đỗ Thị L, Khúc Văn U cùng các bị cáo đồng phạm đều khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2017/HSST ngày 13/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc đã áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 đối, xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 12 tháng tù về tội đánh bạc; áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h,p khoản 1 Điều 46, Điều 20, Điều 33 và Điều 53 BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo Khúc Văn U 9 tháng tù về tội đánh bạc. Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc còn áp dụng khoản 1,3 Điều 248, các tình tiết giảm nhẹ tại điều 46, Điều 20, Điều 53, khoản 1,2 Điều 60, Điều 31, điểm a,b khoản 1 Điều 41 HLHS; điểm a,b,c khoản 2 Điều 76, Điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt các bị cáo đồng phạm, quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/6/2017, Đỗ Thị L kháng cáo xin đƣợc hƣởng án treo.

Ngày 21/6/2017, Khúc Văn U kháng cáo xin đƣợc hƣởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Khúc Văn U xin rút yêu cầu kháng cáo; bị cáo Đỗ Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hƣởng án treo và khai nhận: Khoảng 21h ngày 22/02/2017 đã cùng các đồng phạm thực hiện hành vi đánh liêng ăn tiền tại nhà anh Bùi Văn Y (con trai bị cáo) và bị bắt giữ cùng tang vật. Bi cáo L xác định, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc quy kết về tội đánh bạc là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ và ba mẹ Việt nam anh hùng, đã tự nguyện nộp 5.000.000đ tiền phạt và 200.000đ án phí và cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng tham gia phiên tòa xác định: Tại phiên tòa bị cáo Khúc Văn U đã tự nguyện rút kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 238 BLTTHS, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Khúc Văn U. Hành vi đánh liêng ăn tiền của Đỗ Thị L cùng các bị cáo vào đêm 22/02/2017 tại nhà anh Bùi Văn Y ở thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dƣơng, với số tiền đánh bạc 10.550.000đ đã bị phát hiện bắt quả tang nên đã bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc quy kết về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm h,p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt Đỗ Thị L 12 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo L đã tự nguyện nộp 5.000.000đ tiền phạt và 200.000đ tiền án phí sơ thẩm, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú rõ ràng, nếu cho bị cáo hƣởng án treo cũng không ảnh hƣởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm và cho bị cáo Đỗ Thị L đƣợc hƣởng án treo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

1. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

2. Về nội dung:

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Khúc Văn U đề nghị rút toàn bộ kháng cáo. Xét yêu cầu rút kháng cáo của bị cáo U là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật, nên cần chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

- Lời khai nhận tội của Đỗ Thị L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nhƣ: Biên bản phạm pháp quả tang, tang vật chứng đã thu giữ, lời khai của chính bị cáo L và các bị cáo đồng phạm trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Có đủ cơ sở xác định, Khoảng 0h15’ ngày 23/02/2017, tại nhà anh Bùi Văn Y ở thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dƣơng, Đỗ Thi L cùng 06 bị cáo đồng phạm đã thực hiện hành vi đánh liêng ăn tiền, với số tiền đánh bạc: 10.550.000đ và bị Công an huyện Gia Lộc phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. Hành vi trên của Đỗ Thị L cùng các đồng phạm đã phạm vào khoản 1 Điều 248 BLHS, nên bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc quy kết về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội.

- Xét yêu cầu kháng cáo xin đƣợc hƣởng án treo của Đỗ Thi L thấy rằng: Bị cáo L là ngƣời đề xuất việc đánh bạc, nhƣng sử dụng số tiền đánh bạc ít (310.00đ), phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến, thái độ khai báo thành khẩn, nên Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm h,p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt Đỗ Thị L 12 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000đ tiền phạt và 200.000đ tiền án phí, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, hiện nay vợ chồng bị cáo đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ Bùi Văn J và Mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị I, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS, nên cần áp dụng thêm đối với bị cáo. Xét bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, nếu cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng không ảnh hƣởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phƣơng. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng khoản 1,2 Điều 60 BLHS, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo là phù hợp.

Bị cáo Đỗ Thị L kháng cáo đƣợc chấp nhận, nên không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm khoản 2 Điều 348; điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U, Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Khúc Văn U có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị L, sửa bản án sơ thẩm như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 33 và điểm h,p khoản 1 và khoản 2 Điều 46,khoản 1,2 Điều 60 BLHS năm 1999, điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

- Xử phạt Đỗ Thị L 12 tháng (mười hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Giao bị cáo Đỗ Thị L cho UBND xã T, huyện G, tỉnh hải Dƣơng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. (Trường hợp bị cáo Đỗ Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự).

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (14/8/2017)./.

Cỡ chữ