- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÀO THỊ C VÀ ĐỒNG PHẠM - CHỨA MẠI DÂM - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 668/2025/HS-PT Ngày: 31-10-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán: 1/ Bà Lê Thị Thương Huyền.
2/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 501/2025/HSPT, ngày 01/10/2025 đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo bị kháng nghị:
1/ Đào Thị C; sinh ngày 08/7/1990 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: 766/10 đường S, Phường A, Quận A (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 392/20/2 đường C, Phường A, Quận A (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh khách sạn; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Huy C1 và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo có chồng và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2025; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; Nhân thân: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A, đến ngày 04/5/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/ Hồ Ngọc V; sinh ngày 11/9/2000 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Q, tỉnh Lâm Đồng); nơi ở: A đường Ô, Phường E, Quận A (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc S và bà Hồ Thị X; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; Nhân thân: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A, đến ngày 04/5/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) 3/ Huỳnh Nhựt H; sinh ngày 13/10/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 528/5/87B đường Đ, Phường A, Quận A (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: A đường Ô, Phường E, Quận A (nay là phường H), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn V1 và bà Lê Thị Hồng L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 12/8/2019, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo H cùng bị cáo Ngô Tiến L1 liên đới bồi thường số tiền 29.700.000 đồng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn G (theo bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HSST). Hào chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2021, chưa thi hành phần bồi thường dân sự; tiền sự: Không có; Nhân thân: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 tại Trại tạm giam C - Phân trại tạm giam khu vực Quận A, đến ngày 04/5/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, Đội 5 - Phòng C2 Công an Thành phố H phối hợp cùng Đ1 Công an Q1 kiểm tra khách sạn A1, số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do Hồ Ngọc V làm quản lý, phát hiện Kim Kiệt và Đặng Thị Mỹ T đang mua bán dâm tại Phòng 201; Hà Quang T1 và Nguyễn Thị Thanh L2 đang mua bán dâm tại Phòng 206 của khách sạn nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V về hành vi “Chứa mại dâm”. Tại thời điểm kiểm tra Phòng 101 có Hà Quang T2 đã thỏa thuận mua bán dâm xong với Đinh Thị Mộng T3, đang đợi T3 đến mua dâm; Phòng 306 có Võ Văn S1 và Ngô Thị Lan A (đã thỏa thuận việc mua bán dâm nhưng chưa thực hiện hành vi mua bán dâm); Phòng 102 có C, Phòng 105 có Vương D (cả 02 đến thuê phòng để tìm người mua dâm nhưng chưa có); Tại lầu 4, lầu 5 của khách sạn A1 có các đối tượng Lò Thị S2, Tẩn Cở M, Đinh Hoài L3, Lù Thị V2, Lý Mùi L4, Lù Thị N, Lường Thị T4, Quàng Thị T5, Võ Thị Bé P đang lưu trú tại khách sạn A1 để bán dâm cho khách. Sau đó, toàn bộ vụ việc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Hồ Ngọc V khai nhận việc chứa mại dâm tại khách sạn A1 2 cùng với Đào Thị C (chủ khách sạn A1 2) và Huỳnh Nhựt H (nhân viên khách sạn A1). Ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối Châm, H về hành vi “Chứa mại dâm” để điều tra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V, Huỳnh Nhựt H khai nhận: Khách sạn A1 2 do C làm chủ, theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0317335492 do Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp ngày 16/6/2022. Châm không trực quản lý khách sạn, chỉ kiểm tra qua camera, nên C thuê những người sau để trực tiếp điều hành, quản lý khách sạn, cụ thể:
Từ đầu năm 2023, C thuê Thông M1 Nguyễn trả lương 1.500.000 đồng/tháng, Nguyễn không trực tiếp làm việc tại khách sạn, nhiệm vụ của Nguyễn tuyển nhân sự gồm lao công, lễ tân của khách sạn, khi có sự cố về điện nước, thì H, V cho Nguyễn B để Nguyễn thuê người đến sửa chữa;
Từ tháng 3/2023, C thuê Hồ Ngọc V (Việt do Nguyễn tuyển D) làm quản lý kiêm lễ tân khách sạn ca ngày từ 08 giờ sáng đến 20 giờ tối, tổng kết tiền doanh thu mỗi ngày và mang tiền sang cho C, được Châm trả lương 7.500.000 đồng/tháng;
Từ tháng 6/2023, C thuê Huỳnh Nhựt H làm lễ tân ca tối từ 20 giờ đến 08 giờ sáng hôm sau, Châm trả lương 7.500.000 đồng/tháng;
Từ tháng 6/2023, C thuê Huỳnh L5, Nguyễn Thị Ngọc T6; Nguyễn Đăng H1 (do Nguyễn tuyển vào làm việc từ tháng 11/2023) làm nhân viên lao công, quét dọn phòng, giặt đồ tại khách sạn lương 7.000.000 đồng/tháng.
Từ tháng 10/2023, C quan sát qua camera của khách sạn, thấy khách nam đi một mình đến thuê phòng của khách sạn thì những khách nữ (thuê phòng dài hạn tại khách sạn) đi vào phòng của khách nam khoảng 30-40 phút thì đi ra nên C biết những khách nữ này hoạt động mua bán dâm tại khách sạn A1. Châm nảy sinh ý định việc chứa mại dâm tại khách sạn A1 để tăng doanh thu bằng việc tăng tiền cho thuê phòng khi có khách đến để mua bán dâm. C nói cho V, kêu V nói cho H biết việc chứa mại dâm. V, H biết rõ và thực hiện việc chứa mại dâm trong ca làm việc của mình tại khách sạn A1. Khi có khách đến thuê phòng để mua bán dâm thì V, H sẽ quản lý, sắp xếp phòng và thu tiền phòng theo ca làm việc của mình, đến 20 giờ hàng ngày V tính toán doanh thu trong ngày rồi đem tiền sang đưa cho C, Châm quản lý việc chứa mại dâm qua camera của khách sạn. Châm quy định giá tiền cho thuê phòng theo giờ đối với khách thuê phòng thông thường từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng/giờ tùy theo phòng, đối với khách đến thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm thì thu tiền 100.000 đồng/giờ, chỉ thu tiền của khách nam đến mua dâm. Việc mua bán dâm tại khách sạn A1 2 do các khách mua bán dâm tự thỏa thuận với nhau. Châm, H, V không môi giới mại dâm. Từ tháng 10/2023, C, H, V thực hiện hành vi chứa mại dâm liên tục tại khách sạn A1 đến khoảng 15 giờ 15 phút ngày 30/01/2024 khi V đang thực hành vi chứa mại dâm cho 04 người (Đặng Thị Mỹ T, Nguyễn Thị Thanh L2, Định Thị Mộng T7, Ngô Thị Lan A) thì bị bắt quả tang như nêu trên. Từ tháng 10/2023 đến ngày 30/01/2024, Đào Thị C chứa mại dâm thu lợi khoảng 40.000.000 đồng, C đã tiêu xài cá nhân hết; V, H không được C chia tiền thu lợi từ việc chứa mại dâm; tiền lương của H, V được C trả từ tiền kinh doanh của khách sạn hàng tháng là 7.500.000 đồng/người. Đối những lần chứa mại dâm trước ngày 30/01/2024, C, V, H thực hiện hàng ngày nhưng không nhớ rõ số lượng người đến mua bán dâm. Đối với Thông Minh N1, Huỳnh L5, Nguyễn Thị Ngọc T6 và Nguyễn Đăng H1 không biết việc C, H, V chứa mại dâm tại khách sạn, không hưởng lợi từ việc chứa mại dâm. Lời khai nhận của C phù hợp với lời khai của H, V và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, các đối tượng mua dâm khai nhận như sau: 1. Kim K (sinh năm 2003, nơi thường trú: khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 30/01/2024, K lên trang web “gaigu14.tv” để tìm gái bán dâm với mục đích mua dâm. K nhắn tin với người phụ nữ tên Đặng Thị Mỹ T và thỏa thuận giá mua dâm 400.000 đồng/lần. Sau đó, T hẹn K đến khách sạn A1 để mua bán dâm. K đến khách sạn A1 2 thuê phòng theo giờ thì được lễ tân là Hồ Ngọc V đưa cho chìa khóa phòng 201. Kiệt thanh toán tiền phòng với giá 100.000 đồng/giờ. Sau khi lên phòng thì K nhắn tin số phòng cho T. Khoảng 05 phút sau thì T đến phòng 201. Khi K và T đang quan hệ tình dục, mua bán dâm với nhau tại phòng 201 của khách sạn A1 thì bị bắt quả tang như trên. Kiệt đến khách sạn A1 mua dâm 02 lần. 2. Hà Quang T1 (sinh năm 1993, nơi thường trú: ấp Ô, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau) khai nhận: Vào ngày 30/01/2024, T1 lên trang web “gaigu14.tv” để tìm gái bán dâm với mục đích mua dâm. T1 nhắn tin với Nguyễn Thị Thanh L2 và thỏa thuận mua dâm với giá 400.000 đồng/lần. Sau đó, L2 hẹn T1 đến khách sạn A1 để bán dâm. Thái đến khách sạn, thuê phòng theo giờ thì được lễ tân tên V đưa chìa khóa Phòng 206. T1 lên phòng và nhắn tin số phòng cho L2, khoảng 10 phút sau thì L2 đến. Khi T1 và L2 đang quan hệ tình dục, mua bán dâm tại Phòng 206 của khách sạn A1 thì bị bắt quả tang như trên. T1 đến khách sạn A1 mua dâm 03 lần. 3. Hà Quang T2 (sinh năm 1995, nơi thường trú: ấp Ô, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau) khai nhận: Vào trưa ngày 30/1/2024, T2 cùng Hà Quang T1 rủ nhau tìm gái mua dâm. T2 dùng điện thoại lên trang web “gaigu14.tv” tìm gái bán dâm cho 02 người thì tìm được Tần Lở M2 và Quàng Thị T5 nên nhắn tin mua dâm và được kêu đến khách sạn A1 2 thuê phòng để mua bán dâm. Khi đến khách sạn thuê phòng theo giờ, T2 được bị cáo V đưa chìa khóa Phòng 101, T1 được bị cáo V đưa chìa khóa Phòng 206. Thức thanh toán tiền phòng cho 02 người (gồm T1 và T2) 250.000 đồng bằng chuyển khoản. Sau khi lên Phòng 101, M2 đến và nói trùng người nên không đồng ý bán dâm và rời đi. Một lúc sau, T5 đến cũng nói không đồng ý bán dâm và cũng rời đi. Thức tiếp tục tìm gái bán dâm và liên lạc với Đinh Thị Mộng T3 để mua bán dâm, T3 đồng ý bán dâm và hẹn sẽ đến. Trong lúc chờ mua dâm tại Phòng 101 thì Công an Q1 kiểm tra phát hiện mời Thức làm việc. Thức đến khách sạn A1 mua dâm 02 lần.
4. Võ Văn S1 (sinh năm 1994, nơi thường trú: 1 B, Phường A, Quận A) khai nhận: Vào tháng 01/2024, S1 được 01 nhân viên điện lạnh cho số điện thoại của Ngô Thị Lan A và nói người này có bán dâm, có nhu cầu mua dâm thì liên hệ. Khoảng 14 giờ 25 ngày 30/1/2024, S1 điện thoại cho Lan A thỏa thuận mua bán dâm với số tiến 300.000 đồng/lần. Lan A hướng dẫn S1 đến khách sạn A1 2 thuê phòng. S1 làm theo đến khách sạn, gặp bị cáo V yêu cầu thuê phòng theo giờ, bị cáo V đưa cho S1 thẻ Phòng 306 và S1 lên phòng, nhắn cho Lan A số phòng. Khoảng 10 phút sau, Lan A đến phòng, cả 02 đang ngồi nói chuyện với nhau, chưa thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an Q1 kiểm tra phát hiện. S1 đến khách sạn A1 2 mua dâm lần đầu.
5. Châu Thuận H2 (sinh năm 1987, nơi thường trú: 185/133 Phó C, Phường F, Quận A) khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 55 ngày 30/1/2024, H2 đến khách sạn A1 2 thuê phòng theo giờ để tìm gái mua dâm. Khi đến đây, H2 được đưa phòng 102 và lên phòng. Háng lên trang “gaigu14.tv” để tìm gái bán dâm. Đến 15 giờ 15 thì bị Công an Q1 kiểm tra phát hiện. Háng đến khách sạn A1 mua dâm 03 lần.
6. Vương Do S3 (sinh năm 1979, nơi thường trú: 2 H, Phường I, Quận A) khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 30/1/2024, S3 truy cập trang web “gaigu14.tv” tìm gái bán dâm để mua dâm và thấy thông tin gái bán dâm tên Ý N2, số điện thoại 0363047819. Sùi điện thoại thỏa thuận mua dâm và được N2 hướng dẫn đến khách sạn A1 2 thuê phòng. Khi đến đây, S3 gặp lễ tân là bị cáo V, yêu cầu thuê phòng theo giờ thì được bị cáo V đưa Phòng 105. Sùi lên phòng và nhắn cho N2 biết. Khoảng 15 phút sau, N2 đến phòng nhưng không đồng ý bán dâm cho S3 và bỏ đi. S3 nằm ngủ tại khách sạn đến khi Công an Q1 kiểm tra mời làm việc. Trước đó, S3 đã 03 lần mua dâm tại khách sạn A1 2 nhưng không còn lưu giữ thông tin của người bán dâm.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định các đối tượng trên đến khách sạn A1 2 để mua dâm là các đối tượng trên tự thỏa thuận với người bán dâm, H, V không có môi giới cho các đối tượng trên mua dâm. Lời khai của K, T1, T2, S1, H2, S3 phù hợp với lời khai của V và những người bán dâm Đặng Thị Mỹ T, Nguyễn Thị Thanh L2, Đinh Thị Mộng T3, Ngô Thị Lan A.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, các đối tượng bán dâm (13 người đủ 18 tuổi) khai nhận như sau:
1. Đặng Thị Mỹ T (sinh năm 2000, nơi thường trú: thôn B, xã G, huyện K, tỉnh Gia Lai) khai nhận: thông qua người phụ nữ tên T3 (chưa xác định được lai lịch), T làm gái bán dâm cho khách. T3 là người đăng bài quảng cáo bán dâm của T trên các trang mạng “gaigu.eu”, “gaito.org” kèm theo số điện thoại của T để khách liên hệ mua dâm. Mỗi tháng, T trả cho T3 4.500.000 đồng tiền đăng bài và 2.000.000 đồng tiền thuê khách sạn ở để bán dâm (do Hồ Ngọc V thu tiền). Từ tháng 12/2023, T3 kêu T đến thuê phòng ở tại khách sạn A1 để bán dâm tại đây. Khi T đến thuê phòng thì có làm hợp đồng thuê dài hạn Phòng 401 của khách sạn A1. Mỗi ngày, T bán dâm cho nhiều khách tại khách sạn A1. Vào ngày 30/01/2024, khách mua dâm liên hệ với T qua điện thoại di động sau đó T hướng dẫn khách tới đặt phòng theo giờ tại khách sạn A1. Khách đến đặt phòng, nhắn tin số Phòng 201 thì T xuống Phòng 201 để bán dâm cho khách là Kim K với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 15 cùng ngày, T đang bán dâm cho K thì bị bắt quả tang như trên. 2. Nguyễn Thị Thanh L2 (sinh năm 2001, nơi thường trú: khóm B, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng) khai nhận: thông qua người phụ nữ tên T3 (chưa xác định được lai lịch), L2 làm gái bán dâm cho khách. T3 là người đăng bài quảng cáo bán dâm của T trên các trang mạng “gaigu.14tv”, “gaito.org” kèm theo số điện thoại của L2 để khách liên hệ mua dâm. Mỗi tuần, T trả cho T3 1.000.000 đồng tiền đăng bài và 3.000.000 đồng tiền thuê khách sạn ở để bán dâm (do Hồ Ngọc V thu tiền). Thông qua T3, L2 đến thuê Phòng 304 của khách sạn A1 2 từ khoảng tháng 11/2023, mỗi ngày ở tại khách sạn từ 11 giờ đến 20 giờ để bán dâm cho khách mua dâm. Vào ngày 30/01/2024, L2 đã bán dâm cho khách tại phòng 105 khách sạn với số tiền 400.000 đồng/lần. Sau đó, L2 ở khách sạn A1 thì có một người khách sử dụng số điện thoại 0945018196 nhắn tin hỏi hỏi bán dâm, L2 trả lời có và hẹn khách đến khách sạn A1 để bán dâm cho khách. Khách đến đặt phòng, nhắn tin số Phòng 206 thì L2 xuống phòng để bán dâm cho khách Hà Quang T1 với giá 400.000 đồng. Khi L2 và T1 đang quan hệ tình dục, mua bán dâm tại Phòng 206 của khách sạn A1 thì bị bắt quả tang như trên. 3. Đinh Thị Mộng T3 (sinh năm 1991, nơi thường trú: 9 Hồ N, Phường A, Quận F) khai nhận: thông qua người bạn tên Q (không rõ lại lịch) giới thiệu quen biết với người phụ nữ tên T3 (không rõ lai lịch) đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang mạng “gaigu quận A”, mỗi tháng phải trả cho T3 2.000.000 đồng và được hướng dẫn bán dâm tại khách sạn A1. Mộng Trinh không thuê phòng ở lại khách sạn, khi khách liên hệ mua dâm thì Mộng T3 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, Mộng T3 sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 300.000 đồng/lần. Từ tháng 11/2023 đến ngày 30/01/2024 Mộng T3 đã bán dâm khoảng 120 lần tại khách sạn A1 2 nên quen biết với V, H. Mỗi lần đến khách sạn B2, Mộng T3 chỉ cần gặp V hoặc H nói số phòng khách đã đặt thì được cho lên phòng, không cần làm thủ tục thuê phòng gì. Vào khoảng 15 giờ ngày 30/1/2024, Mộng T3 nhận được điện thoại của khách mua dâm, T3 kêu khách đến khách sạn A1 2 thuê phòng trước rồi T3 đến sau. Đến khoảng 15 giờ 15 cùng ngày, khi Mộng T3 vừa đến khách sạn để bán dâm cho khách thì bị Công an Q1 kiểm tra phát hiện. 4. Ngô Thị Lan A (sinh năm 1991, nơi thường trú: 179/5B đường 8 tháng C, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long) khai nhận: thông qua người bạn tên Tường V3 (không rõ lại lịch) giới thiệu quen biết với người phụ nữ tên Võ Thùy T8 (không rõ lai lịch) chụp hình, đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang mạng “gaigu.14tv”, cùng số điện thoại để khách liên hệ mua dâm, mỗi tháng phải trả cho T8 1.800.000 đồng. Tường Vy hướng dẫn Lan A đến bán dâm tại khách sạn A1. Từ tháng 8/2023, Lan A đến thuê phòng 405 tại khách sạn để bán dâm nhưng không thường xuyên ở đây. Khi khách liên hệ mua dâm thì Lan A hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, Lan A sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 300.000 đồng/lần. Lan A đã nhiều lần bán dâm cho khách tại khách sạn A1, bị cáo V và bị cáo H đều biết việc này trong ca làm việc của mình. Vào khoảng 14 giờ 20 ngày 30/1/2024, Lan A nhận được điện thoại của khách mua dâm tên S1, Lan A kêu khách đến khách sạn A1 2 thuê phòng. Sau đó, Lan A được khách báo phòng 306. Lan A đến gặp V nói lên phòng 306. Khi vào phòng, Lan A nói chuyện với anh S1, chưa thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an Q1 kiểm tra phát hiện.
5. Đinh Hoài L3 (sinh năm 1980, nơi thường trú: bản Đ, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái) khai nhận: thông qua người bạn (không rõ lại lịch) giới thiệu quen biết với người quản lý trang web “gaigu14.tv” qua tài khoản Telegram “A C E”, người này đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang web “gaigu14.tv” cùng số điện thoại của L3 để khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, L3 phải trả cho người này 2.000.000 đồng và được người bạn hướng dẫn bán dâm tại khách sạn A1. Lan thuê Phòng 404 từ ngày 14/01/2024, ở lại đây để bán dâm cho khách. Khi khách liên hệ mua dâm thì L3 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, L3 sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 200.000 đồng/lần. Mỗi ngày, L3 bán dâm tại khách sạn được khoảng 05 lần. Từ ngày 27/01/2024, trang web gaigu14.tv bị chặn nên L3 không có khách mua dâm. Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/01/2024, L3 đang ở Phòng 404 khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc.
6. Lý Mùi L4 (sinh năm 1997, nơi thường trú: thôn N, xã T, thị xã S, tỉnh Lào Cai) khai nhận: thông qua người phụ nữ tên T8 (không rõ lai lịch), L4 đến khách sạn A1 2 thuê Phòng Vip 1 ở và bán dâm tại khách sạn. Trinh đăng bài quảng cáo bán dâm trên các trang mạng cùng số điện thoại của L4 để khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, L4 phải trả cho T8 3.000.000 đồng và được người bạn hướng dẫn bán dâm tại khách sạn A1. Khi khách liên hệ mua dâm thì L4 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, L4 sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 400.000 đồng/30 phút. Từ tháng 11/2023, mỗi ngày, L4 đều bán dâm nhiều lần tại khách sạn A1 (không nhớ rõ số lần). Trong ngày 30/1/2024, L4 chưa bán dâm được cho khách nào. Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, L4 đang ở phòng V, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc.
7. Lù Thị N (sinh năm 2001, nơi thường trú: bản C, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên) khai nhận: tháng 5/2023, N quen biết với người phụ nữ tên B1 (không rõ lai lịch), và được người này hỏi việc bán dâm, N đồng ý và được B1 chụp hình, đang bài trên các trang web “gaigu.14tv”, “gaito.is” cùng số điện thoại của Nơi để khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, N phải trả cho B1 4.000.000 đồng và được người này hướng dẫn đến thuê phòng ở và bán dâm tại khách sạn A1. Nơi đến thuê phòng Vip 1 ở đây. Khi khách liên hệ mua dâm thì Nơi hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, Nơi sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 400.000 đồng/lần. Từ tháng 11/2023, mỗi ngày, N đều bán dâm nhiều lần tại khách sạn A1 (không nhớ rõ số lần). Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, Nơi đang ở phòng V, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc. 8. Lù Thị V2 (sinh năm 2004, nơi thường trú: bản C, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên) khai nhận: thông qua người bạn tên N3 (không rõ lai lịch), V2 nhờ N3 đăng bài quảng cáo bán dâm cho Viên trên các trang web gaigu.14tv, gaito.org cùng số điện thoại của V2 để khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, V2 phải trả cho N3 2.000.000 đồng và được người này hướng dẫn đến thuê phòng ở và bán dâm tại khách sạn A1. Khi khách liên hệ mua dâm thì V2 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, V2 sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 400.000 đồng/lần. Từ tháng 11/2023, mỗi ngày, V2 đều bán dâm nhiều lần tại khách sạn A1 (không nhớ rõ số lần). Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, V2 đang ở phòng V4, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc. 9. Lường Thị T4 (sinh năm 2004, nơi thường trú: bản P, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên) khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên T4 nhờ bạn tên P (không rõ lai lịch) kiếm việc làm, P đề nghị T4 bán dâm cho khách và T4 đồng ý. P hướng dẫn T4 đến khách sạn A1 2 thuê phòng ở và bán dâm tại khách sạn. P đến khách sạn A1 thuê phòng 407 từ tháng 11/2023 để ở và bán dâm. P đăng bài quảng cáo bán dâm trên các trang web “gaigu12.tv” cùng số điện thoại của T4 để khách mua dâm liên hệ. T4 phải trả cho P 4.000.000 đồng để đăng bài. Khi khách liên hệ mua dâm thì T4 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, T4 sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 500.000 đồng/lần. Từ tháng 11/2023, T4 đã nhiều lần bán dâm nhiều lần tại khách sạn A1 (không nhớ rõ số lần). Từ giữa tháng 01/2024, T4 không có khách mua dâm. Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, Thuấn đang ở phòng 407, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc. 10. Võ Thị Bé P (sinh năm 1985, nơi thường trú: khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp) khai nhận: P quen biết với người đàn ông chạy xe ôm tên S4 và được S4 gợi ý bán dâm kiếm thêm thu nhập, P đồng ý. S4 chụp hình khỏa thân, đăng bài quảng cáo bán dâm trên các trang web “gaigu12.tv” cùng số điện thoại của P để khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, P phải trả cho S4 1.700.000 đồng tiền đăng bài và được S4 yêu cầu thực hiện bán dâm tại khách sạn A1. Khi khách liên hệ mua dâm thì Phương hướng D1 khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, P sẽ đến bán dâm cho khách với số tiền 300.000 đồng/lần. Khi đến khách sạn bán dâm, P chỉ cần báo số phòng cho lễ tân và được lên phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm với khách. P đã bán dâm tại khách sạn A1 được khoảng 20 lần. Trong ngày 30/1/2024, P không bán dâm cho khách tại khách sạn. Vào khoảng 15 giờ ngày 30/1/2024, P đến tìm bạn ở phòng 504 khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc. 11. Quàng Thị T5 (sinh năm 2002, nơi thường trú: xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên) khai nhận: T5 được bạn tên Y (không rõ lai lịch) giới thiệu cho người phụ nữ tên H3 (không rõ lai lịch), T5 nhờ H3 giới thiệu khách cho T5 bán dâm. H3 hướng dẫn T5 đến thuê phòng khách sạn A1 để ở và bán dâm cho khách. Từ tháng 11/2023, T5 đến thuê phòng 407 ở dài hạn và gửi ảnh cho H3 để đăng bài quảng cáo bán dâm trên các trang web “gaigu12.tv”, “gaito.org”, để lại số điện thoại cho khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, T5 phải trả cho H3 4.000.000 đồng tiền đăng bài. Khi khách liên hệ mua dâm thì H3 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng cho H3, H3 sẽ nhắn cho T5 để đến bán dâm cho khách với số tiền 500.000 đồng/lần, T5 được hưởng 250.000 đồng, phải đưa cho H3 250.000 đồng. Từ tháng 11/2023, T5 đã nhiều lần bán dâm cho khách nhiều lần tại khách sạn A1 (không nhớ rõ số lần). Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, T5 đang ở phòng 407, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc.
12. Tẩn Lở M3 (sinh năm 2000, nơi thường trú: thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai) khai nhận: Mẩy bắt đầu bán dâm từ tháng 12/2023 dưới sự môi giới của người phụ nữ tên H3 (không rõ lai lịch). H3 sẽ đăng bài quảng cáo bán dâm có hình ảnh của Mẩy trên các trang mạng và để số điện thoại liên hệ giao cho một người phụ nữ quản lý. Khi khách liên hệ mua dâm, thì người phụ nữ hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng, người này sẽ nhắn cho M3 để đến bán dâm cho khách với số tiền 400.000 đồng/lần, M3 được hưởng 200.000 đồng, phải đưa cho H3 200.000 đồng. Từ ngày 08/01/2024, M3 chuyển đến ở phòng 501 tại A, đã bán dâm 06 lần với số tiền 2.400.000 đồng. Vào khoảng 15 giờ 15 ngày 30/1/2024, Mẩy đang ở phòng 501, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc.
13. Lò Thị S2 (sinh năm 2004, nơi thường trú: bản P1, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên) khai nhận: Sa được bạn tên T9 (không rõ lai lịch) giới thiệu cho người phụ nữ tên H3 (không rõ lai lịch), S2 nhờ H3 giới thiệu khách cho S2 bán dâm. H3 hướng dẫn S2 đến thuê phòng khách sạn A1 để ở và bán dâm cho khách. Từ ngày 08/01/2024, S2 đến thuê phòng 501 ở dài hạn và gửi ảnh cho H3 để đăng bài quảng cáo bán dâm trên trang web gaigu12.tv, để số điện thoại cho khách mua dâm liên hệ. Mỗi tháng, S2 phải trả cho H3 2.000.000 đồng tiền đăng bài. Khi khách liên hệ mua dâm thì H3 hướng dẫn khách thuê phòng khách sạn A1 rồi nhắn số phòng cho H3, H3 sẽ nhắn cho S2 để đến bán dâm cho khách với số tiền 600.000 đồng/lần, S2 được hưởng 300.000 đồng, phải đưa cho H3 300.000 đồng. Do bị bệnh nên từ ngày 26/01/2024, S2 mới bắt đầu bán dâm cho khách tại khách sạn A1. Trong ngày 26/01/2024, S2 bán dâm 07 lần với số tiền 4.200.000 đồng. Ngày 27/1/2024, S2 không có bán dâm. Ngày 28/1/2024, S2 bán dâm 01 lần số tiền 600.000 đồng. Ngày 29/01/2024, S2 bán dâm 01 lần số tiền 600.000 đồng. Ngày 30/01/2024, S2 chưa có khách mua dâm, đến khoảng 15 giờ 15 cùng ngày, S2 đang ở phòng 501, khách sạn A1 thì bị Công an Q1 kiểm tra mời làm việc.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xác định các đối tượng Đặng Thị Mỹ T, Nguyễn Thị Thanh L2, Lò Thị S2, Tẩn Cở M, Ngô Thị Lan A, Đinh Thị Mộng T3, Đinh Hoài L3, Lù Thị V2, Lý Mùi L4, Lù Thị N, Lường Thị T4, Quàng Thị T5, Võ Thị Bé P bán dâm tại khách sạn A1 2 nhiều lần (nhưng không nhớ rõ ngày nào) và Huỳnh Nhựt H, Hồ Ngọc V đều biết, nhưng H, V, C không môi giới cho các đối tượng trên bán dâm. Lời khai nhận của T, L2, S2, M, T3, Lan A, L3, V2, L4, N, T4, T5, P phù hợp với lời khai của H, V, C. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định: Căn cứ vào Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58; điểm c, d khoản 2, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đào Thị C; Căn cứ vào Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58; điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hồ Ngọc V; Căn cứ vào Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Nhựt H; Tuyên bố các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V, Huỳnh Nhựt H phạm tội “Chứa mại dâm”. Xử phạt bị cáo Đào Thị C 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 04/5/2024. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo C số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp sau khi bản án có hiệu lực thi hành để sung vào công quỹ Nhà nước. Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc V 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 04/5/2024. Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhựt H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 04/5/2024. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo. Ngày 24/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KV3, kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh về việc không áp dụng tình tiết phạm tội “Có tổ chức” đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H và không buộc bị cáo C nộp lại số tiền thu lợi bất chính 40.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phạm tội “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tăng hình phạt tù đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H. Đồng thời, buộc bị cáo C nộp lại số tiền thu lợi bất chính 40.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H cùng thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H về tội “Chứa mại dâm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 10/2023 các bị cáo chứa mại dâm liên tục đến ngày bị bắt quả tang, C là người khởi xướng, chủ mưu, đến 20 giờ hàng ngày V tính doanh thu và đem nộp tiền cho C, bị cáo H giúp sức tích cực thể hiện các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ. Bản án không áp dụng điểm a là có thiếu sót, nên cần áp dụng thêm tình tiết định khung này. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo C khai đã thu lợi bất chính khoảng 40.000.000 đồng, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C khai không nhớ chính xác số tiền thu lợi bất chính là bao nhiêu, nhưng có cơ sở xác định từ ngày 27 đến ngày 30/01/2024 có 127 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm thể hiện các bị cáo thu lợi bất chính 12.700.000 đồng. Bản án sơ thẩm không tuyên buộc bị cáo C phải nộp tiền thu lợi bất chính là thiếu sót.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phạm tội “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Thị C từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù, tăng hình phạt đối với Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù. Đồng thời, buộc bị cáo C nộp lại số tiền thu lợi bất chính 12.700.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Đào Thị C và bị cáo Hồ Ngọc V không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo Huỳnh Nhựt H tranh luận với đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo chỉ làm theo trách nhiệm, bị cáo không trực tiếp gặp gỡ bị cáo C để bàn bạc, bị cáo làm việc ca đêm và toàn bộ là thu 100.000 đồng/giờ chứ không chỉ riêng khách mua dâm mới thu 100.000 đồng/giờ.
Kiểm sát viên đối đáp với bị cáo H: Các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự đồng thuận cao nên mới phạm tội trong một thời gian dài.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 335 và Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm [2] Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ động cơ tư lợi, từ khoảng tháng 10/2023 đến ngày 30/01/2024, bị cáo Đào Thị C là chủ khách sạn A1 đã có hành vi chỉ đạo các bị cáo Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H là quản lý kiêm lễ tân khách sạn này để cho khách là nam giới đến thuê phòng khách sạn M4 thực hiện hành vi mua bán dâm tại khách sạn với các gái bán dâm thuê phòng khách sạn dài hạn tại đây. Khi có khách đến thuê phòng để mua bán dâm thì bị cáo V và bị cáo H sẽ quản lý, sắp xếp phòng, thu tiền phòng của khách, còn bị cáo C quản lý việc chứa mại dâm tại khách sạn thông qua việc theo dõi tờ lịch theo dõi chi tiết phòng và thu nhập mà bị cáo V và bị cáo H ghi chép lại trong ca làm việc của mình. Quá trình điều tra xác định được số lần chứa mại dâm tại khách sạn A1 2 từ ngày 27/01/2024 đến ngày 30/01/2024 cụ thể như sau: + Ngày 27/01/2024 có 37 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm. + Ngày 28/01/2024 có 37 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm. + Ngày 29/01/2024 có 30 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm. + Ngày 30/01/2024 có 23 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm. Hành vi của các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Thời điểm bị bắt quả tang vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, bị cáo V và bị cáo C đã thực hiện hành vi chứa mại dâm cho 04 người bán dâm gồm: Đặng Thị Mỹ T, Nguyễn Thị Thanh L2, Đinh Thị Mộng T3, Ngô Thị Lan A. Do đó, bị cáo Đào Thị C và bị cáo Hồ Ngọc V còn bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Chứa mại dâm 04 người trở lên” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến thuần phong mỹ tục, trật tự trị an xã hội nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà các bị cáo thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Thị C và bị cáo Hồ Ngọc V về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại Điểm c, d khoản 2 Điều 327 và xét xử bị cáo Huỳnh Nhựt H4 về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [4] Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSQ11 ngày 07 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đào Thị C, bị cáo Hồ Ngọc V và bị cáo Huỳnh Nhựt H về tội “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra xác định từ tháng 10/2023 đến ngày 30/01/2024, do thấy có thể tăng doanh thu bằng việc tăng tiền cho thuê phòng khi có khách đến để mua bán dâm, bị cáo Đào Thị C nói cho bị cáo Hồ Ngọc V và bị cáo Huỳnh Nhựt H biết về việc chứa mại dâm, đồng thời thuê các bị cáo này trực tiếp quản lý, sắp xếp phòng và thu tiền phòng theo ca làm việc của mình đối với các khách nam thuê phòng để mua bán dâm tại khách sạn A1. Bị cáo V và bị cáo H không được bị cáo C chia tiền thu lợi từ việc chứa mại dâm, mà các bị cáo này chỉ được bị cáo C trả tiền lương từ tiền kinh doanh của khách sạn hàng tháng là 7.500.000 đồng/người.
Ngày 14/4/2025, Tòa án nhân dân Quận 11 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra bổ sung với nội dung “Các bị can Đào Thị C, Huỳnh Nhựt H, Hồ Ngọc V bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về tội “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạm tội “Có tổ chức” là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển của người đứng đầu. Có kế hoạch phạm tội chi tiết, rõ ràng hoặc tuy không có kế hoạch nhưng mỗi bị can đảm nhiệm một phần nhất định và chịu trách nhiệm đối với phần việc của mình. Trong phạm tội có tổ chức, mỗi bị can được giao nhiệm vụ cụ thể và tất cả họ cùng nhau liên kết lại thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm”. Do đó, đề nghị điều tra xác định rõ các dấu hiệu thể hiện các bị can Đào Thị C, Huỳnh Nhựt H, Hồ Ngọc V phạm tội có tổ chức hay không (BL 341). Ngày 16/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 03/CV-VKSQ11 giữ nguyên quan điềm truy tố các bị can Đào Thị C, Huỳnh Nhựt H, Hồ Ngọc V về tội “Chứa mại dâm” thuộc trường hợp “Có tổ chức” và không điều tra bổ sung nội dung nào khác (BL341).
Tuy nhiên, tại Bản Kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số: 15/BKL-ĐCSHS ngày 21/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 cũng đã thể hiện nội dung: “Tuy nhiên, các bị can không có sự bàn bạc, phân công vai trò, không có sự câu kết chặt chẽ. Bị can V và bị can H cũng không được hưởng lợi gì từ việc chứa mại dâm tại khách sạn mà chỉ làm theo lời chủ kinh doanh là bị can C. Do vậy, hành vi của các bị can chỉ là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức”.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra bổ sung, làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo có thuộc trường hợp “Có tổ chức” hay không, nhưng Viện kiểm sát không trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để làm rõ nội dung này mà hoàn hồ sơ lại cho Tòa án cấp sơ thẩm là điều tra không toàn diện và mâu thuẫn với Kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số: 15/BKL-ĐCSHS ngày 21/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1. Với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã nhận định “Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thì không có chứng cứ để chứng minh giữa các bị cáo có sự thống nhất, bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện tội phạm. Bị cáo C không có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cho các bị cáo V, bị cáo H mà vụ án chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trước và sau khi có sự việc chứa mại dâm tại khách sạn A1 thì bị cáo V, bị cáo H cũng chỉ được bị cáo C trả lương hàng tháng là 7.500.000 đồng cho mỗi người. Bị cáo H, bị cáo V không được hưởng lợi gì từ việc chứa mại dâm tại Khách sạn A1. Tại Bản Kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số: 15/BKL-ĐCSHS ngày 21/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 cũng đã thể hiện nội dung: “Tuy nhiên, các bị can không có sự bàn bạc, phân công vai trò, không có sự câu kết chặt chẽ. Bị can V và bị can H cũng không được hưởng lợi gì từ việc chứa mại dâm tại khách sạn mà chỉ làm theo lời chủ kinh doanh là bị can C. Do vậy, hành vi của các bị can chỉ là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức” nên không áp dụng tình tiết phạm tội “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự và bản án sơ thẩm nhận định “Tại phiên tòa, bị cáo Đào Thị C khai nhận đã thu lợi bất chính với số tiền khoảng 40.000.000 đồng. Ngoài lời khai nhận của bị cáo thì không có căn cứ nào khác thể hiện bị cáo đã thực tế hưởng lợi bao nhiêu tiền nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, có cơ sở để xác định bị cáo đã có hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước”. Tuy nhiên, ngày 24/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục kháng nghị với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phạm tội “Có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tăng hình phạt tù đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H. Đồng thời, buộc bị cáo C nộp lại số tiền thu lợi bất chính 40.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đào Thị C khai nhận quy định giá tiền cho thuê phòng theo giờ đối với khách thuê phòng thông thường từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng/giờ tùy theo phòng, đối với khách đến thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm thì thu tiền 100.000 đồng/giờ, chỉ thu tiền của khách nam đến mua dâm. Như vậy, đối với 127 lượt khách thuê phòng để mua bán dâm từ ngày 27/01/2024 đến ngày 30/01/2024 thì bị cáo thu lợi bất chính số tiền 5.080.000 đồng. Xét thấy có mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo C và các tài liệu, chứng cứ thu được trong hồ sơ vụ án về số tiền thu lợi bất chính nhưng chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm làm rõ. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định của pháp luật về tình tiết “Có tổ chức” theo kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 và làm rõ số tiền thu lợi bất chính của bị cáo C và cấp sơ thẩm không có lỗi khi Bản án sơ thẩm bị hủy.
Do hủy bản án nên không xem xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do hủy bản án sơ thẩm nên các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra, truy tố lại theo thủ tục chung.
Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại vụ án.
Về án phí: Các bị cáo Đào Thị C, Hồ Ngọc V và Huỳnh Nhựt H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - CQ THAHS CA.TP.HCM (1) - CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1) - VKSND Khu vực 3; (1) - TAND Khu vực 3; (1) - THADS TP.HCM (1) - Phòng THADS Khu vực 3; (1) - Bị cáo; (3) - UBND nơi bị cáo cư trú; (3) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (24) (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |