vanban.org

Bản án 666/2022/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo D:

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng D 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phường C, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng D và đồng phạm - Bắt người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo D:
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 666/2022/HSPT
Ngày: 16-8-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Ông Phan Huy Cương

2. Bà Chử Phương Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Long - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 313/2022/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HSST ngày 27/01/2022 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Hoàng D, sinh năm 2001.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Phòng A nhà 2 tập thể B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do (bị cáo khai tại phiên tòa: Sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao); trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H và bà Nguyễn Linh C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Danh chỉ bản số 000000208 lập ngày 01/7/2021 tại C an quận H, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2021; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn T P, sinh năm 2001.

ĐKHKTT: L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T và bà Phan Thu H; có vợ Vũ Ngọc Phương C, chưa có con (bị cáo khai tại phiên tòa: có 01 con, sinh ngày 16/6/2022); tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 519/2022/HSPT-QĐ ngày 23/6/2022 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn T P, Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

Danh chỉ bản số 000000204 lập ngày 01/7/2021 tại C an quận H, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2021; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Cháu Huỳnh Trần Nam P1, sinh ngày 05/12/2003.

Người đại diện hợp pháp cho cháu P: Chị Trần Đào Thu Lệ H, sinh năm 1976 (mẹ đẻ); nơi cư trú: T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên toà.

2. Cháu Phạm T A, sinh ngày 16/3/2003.

Người đại diện hợp pháp cho cháu T A: Chị Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1974 (mẹ đẻ); nơi cư trú: tập thể M, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 01/9/2020, C an phường Lý Thái Tổ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực lòng đường trước cửa số 01 phố Lê Lai, phường Lý Thái Tổ, quận H, Hà Nội xảy ra xô sát đánh nhau. Ngay sau khi nhận được tin báo, C an phường Lý Thái Tổ đã có mặt tại hiện trường, các đối tượng đã rời khỏi hiện trường để lại 01 xe máy Honda Wave màu đen không BKS đã qua sử dụng, rà soát camera, nhân chứng và mời những người có liên quan về trụ sở để làm việc.

Thu giữ tại hiện trường: 01 xe máy Honda Wave màu đen đã qua sử dụng, số khung RLHJA3917LY020010, số máy JA39E1353720, trong cốp xe có BKS 29D2- 424.73; 02 mảnh gạch màu đỏ kích thước 9,5x9,5x6cm.

Đến 07 giờ 45 phút ngày 01/9/2020, Trần Hoàng D (sinh năm: 2001; Nơi cư trú: Số 02 TT B, phường C, quận H, Hà Nội) đến C an phường Lý Thái Tổ trình báo về việc bị 03 đối tượng dùng gạch đánh vào đầu gây thương tích tại khu vực lòng đường trước cửa số 01 Lê Lai, phường Lý Thái Tổ, quận H, Hà Nội rạng sáng ngày 01/9/2020 và đề nghị điều tra làm rõ xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 01/9/2020, Huỳnh Trần Nam P1 điều khiển xe máy Wave BKS: 29D2-424.73 chở Phạm T A, còn Nguyễn Quang K một mình điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29E2- 490.71 đi đến khu vực trước cửa hàng Circle K - Số 01 Lê Lai, phường Lý Thái Tổ, quận H, Hà Nội thấy Trần Hoàng D, Bùi Thành C và Nguyễn T P đang ngồi uống nước tại đây. T A có nhìn và chỉ tay về phía nhóm D. Do nghĩ bị nhìn đểu, D điều khiển xe máy Wave BKS: 29D2-333.34 chở C, lúc này Nguyễn Quốc D1 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29Z1-595.68 đi đến liền chở T P (cầm theo gạch) đuổi theo nhóm T A về hướng cây xăng dốc Bác Cổ thì đuổi kịp xe của Nam P1, T A nên chặn lại hỏi: “Chúng mày chỉ gì tao đấy”. Nam P1 liền tăng ga xe máy bỏ chạy. Thấy vậy, T P cầm ném gạch về phía xe máy của Nam P1 nhưng không trúng. Nhóm của D tiếp tục đuổi theo xe máy của Nam P1 qua các tuyến phố Trần Quang Khải - Nguyễn Khoái - Trần Khát Chân - Phố Huế

- Nguyễn Du. Khi đến gần khu vực số 7 Thiền Quang, phường Nguyễn Du, quận H, Hà Nội thấy Nam P1 dừng xe lại nên nhóm D dừng lại, không đuổi theo. Sau đó, D điều khiển xe máy BKS: 29D2- 333.34 chở theo T P và C đến khu vực C Độ, quận H, Hà Nội chơi điện tử còn D1 đi xe máy về nhà. Thấy nhóm D bỏ đi, T A đã nhặt viên gạch ở khu vực vỉa hè trên phố Thiền Quang mang theo để phòng thân và gọi điện hẹn gặp K tại cửa hàng Circle K trên đường Thanh Niên, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội rồi cùng quay lại cửa hàng Circle K số 01 Lê Lai để tìm D. Sau khi chơi điện tử, D, C, T P cùng nhau đến cửa hàng Circle K số 1 Lê Lai mua đồ ăn và gặp, nói chuyện với Phạm Minh A. Đến 04 giờ 30 phút cùng ngày, Nam P1, T A và K đi qua cửa hàng Circle K số 01 Lê Lai nhìn thấy nhóm D nên dừng xe. Nam P1, T A và K cùng lao về phía D. Thấy vậy, C, T P, Minh A bỏ chạy. Nam P1, T A dùng gạch đánh vào đầu D, còn K lao vào đánh D bằng tay chân. D nhặt được 01 chiếc gậy định đuổi đánh nhóm Nam P1 thì có người dân vào can ngăn. Lúc này, Nam P1, T A lên xe máy Honda Wave BKS: 29E2- 490.71 của K bỏ chạy và để lại xe máy Honda Wave BKS: 29D2- 424.73 tại khu vực trước cửa hàng Circle K số 01 Lê Lai. Sau đó, D đến C an phường Lý Thái Tổ trình báo sự việc rồi đến Bệnh viện Việt Đức khám thương.

Đến 21 giờ 00 phút ngày 01/9/2020, D hẹn nhóm bạn gồm: Minh A, C, T P, Trần Anh T, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc D1 và Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán nước khu vực gần Đình Kim Liên, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội hỏi thông tin về nhóm của Nam P1. Thông qua mạng xã hội, Minh A biết Nguyễn Quang K nên hẹn K nói chuyện. K đồng ý, một mình điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29E2-490.71 ra gặp nhóm D đồng thời liên hệ với Nam P1 và T A để cùng ra gặp D nói chuyện. Sau đó, K và H đi 02 xe máy đến khu vực hồ Đắc Di, quận Đống Đa, Hà Nội đón Nam P1 và T A đang ngồi chơi game ở đây đưa về khu vực quán nước gần Đình Kim Liên gặp D. Tại đây, D chửi “chúng mày đánh tao như thế này à” đồng thời D, H, T, C, T P, D1 lao vào dùng chân tay đánh T A và Nam P1 thì có người dân vào can ngăn nên cả nhóm dừng lại. D bảo nhóm bạn đưa Nam P1 và T A về khu vực số 117 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận H, Hà Nội nói chuyện. D nhờ K chở D và Minh A đi về số 117 Hàng Buồm trước. T P kéo Nam P1 lên ngồi sau xe máy Honda Wave BKS: 29Z1-595.68 do D1 điều khiển (xe kẹp 3, Nam P1 ngồi giữa); T kéo T A lên ngồi sau xe máy do H điều khiển (xe kẹp 3, T A ngồi giữa), cả Nam P1 và T A bị đánh và ép buộc đưa lên xe máy trái ý muốn; C điều khiển xe Wave BKS: 29D2-333.34 đi một mình. Cả nhóm đi từ Đình Kim Liên đến khu vực gần rạp xiếc trên đường Trần Nhân Tông (đoạn cổng công viên Thống Nhất) dừng xe đợi Đỗ Mạnh Tùng điều khiển xe máy Honda Wave 29F1-530.92 chở Doãn Hoàng P đến. Tại đây, Nam P1 và T A bị cả nhóm đánh bằng tay chân. Sau đó, Hoàng P kéo Nam P1 lên xe máy BKS: 29F1-530.92 do Tùng điều khiển (xe kẹp 3, Nam P1 ngồi giữa) rồi cả nhóm tiếp tục di chuyển đến khu vực phố Thi Sách, phường Ngô Thì Nhậm, quận H, thành phố Hà Nội thì dừng lại. C, T P, T, H, Tùng, Hoàng P, D1 lao vào đánh T A và Nam P1 bằng tay chân. Sau đó cả nhóm tiếp tục đưa Nam P1 và T A về khu vực số 117 Hàng Buồm. Tại đây, khi vừa dừng xe, Hoàng P tiếp tục lao vào đánh Nam P1 thì bị tổ công tác đội Điều tra hình sự C an quận H tuần tra phát hiện nên đưa các đối tượng về trụ sở C an phường Lý Thái Tổ giải quyết. Lợi dụng lúc đông người, H đã bỏ trốn khỏi hiện trường.

* Đối với hành vi cố ý gây thương tích:

Theo giấy chứng thương số 5294/20/KHTH ngày 08/10/2020 của Bệnh viện hữu nghị Việt Đức xác định thương tích của Trần Hoàng D như sau: Vết thương thái dương đỉnh trái kích thước 4x3cm nham nhở, bẩn. CT Scanner sọ não: Hiện không thấy máu tụ nội sọ trên phim. Phù nề, đụng dập phần mềm vùng đỉnh trái. Hàm mặt vững, cổ mềm. Ngực – chậu vững. Bụng mềm. Tứ chi không biến dạng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 1086/TTPY ngày 27/10/2020 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội kết luận thương tích của Trần Hoàng D như sau:

1. Sẹo vết thương vùng thái dương - đỉnh trái: 02%

2. Nhiều khả năng thương tích do vật tày có cạnh gây nên

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 02%.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm T A khai nhận: Khi nhìn thấy nhóm D tại khu vực Circle K ở Lê Lai, T A chỉ về phía nhóm D nói “hình như là người quen”. Một lúc sau, nhóm D đuổi theo nhóm T A nói “chúng mày nhìn cái gì”, nhóm T A bỏ chạy bị T P dùng gạch ném theo sau nhưng không trúng. Sau đó, T A nhặt 03 viên gạch đặc khối hình vuông cùng Nam P1 và K quay lại khu vực Circle K Lê Lai mục đích để tự vệ. Tại đây, T A và Nam P1 đã dùng gạch đánh vào đầu D, K dùng tay chân đánh D.

Nguyễn Quang K khai nhận: Khoảng 04 giờ ngày 01/9/2020, K cùng Nam P1, T A rủ nhau đi dạo phố. Khi đi qua ngã ba Trần Quang Khải – T, bị 02 xe máy của nhóm D chặn xe chửi “chúng mày nhìn gì”. K bỏ chạy về nhà, nhóm D đuổi theo xe của Nam P1. Đến 05 giờ cùng ngày, Nam P1 và T A gọi K ra ngoài dạo phố tiếp. Khi đi đến đầu phố Lê Lai, nhóm K nhìn thấy nhóm D nên Nam P1 và T A tay cầm gạch đi về phía nhóm D. Thấy vậy, mọi người bỏ chạy còn D ở lại và bị Nam P1, T A dùng gạch đánh vào đầu, K dùng chân tay đánh D.

Huỳnh Trần Nam P1 khai nhận: Sau khi chơi tại quán game trên đường Yên Phụ, Nam P1 cùng K và T A đến số 01 Lê Lai thì có 02 xe máy (gồm 05 người) đuổi theo ném gạch về phía nhóm Nam P1. Khi đến số 7 Thiền Quang, nhóm Nam P1 dừng lại nên nhóm thanh niên bỏ đi. Một lúc sau, nhóm Nam P1 đến cửa hàng Circle K số 01 Lê Lai đã gặp lại nhóm nam thanh niên trên nên hai bên xảy ra xô sát. T A nhặt gạch ném về phía D nhưng trượt, Nam P1 cầm viên gạch vỡ đánh vào đầu D. Lúc này, có người ra can ngăn, D nhặt 01 chiếc gậy đập vào nhóm Nam P1 nên cả nhóm bỏ chạy, vứt lại xe máy của T A.

Trần Hoàng D, Bùi Thành C và Nguyễn T P cùng khai: Thấy nhóm Nam P1 chỉ tay nhìn về phía nhóm D đang ngồi uống nước nên D bảo cả nhóm đuổi theo. D chở C bằng xe máy, T P cầm gạch ngồi sau xe máy do D1 điều khiển (vừa đến) đuổi theo nhóm Nam P1 qua nhiều tuyến phố. T P cầm gạch ném về phía nhóm Nam P1 nhưng không trúng. Sau đó, cả ba vào quán Internet ở khu vực C Độ chơi điện tử rồi đến cửa hàng Circle K số 01 Lê Lai ăn sáng. Khi cả nhóm đang nói chuyện với Minh A, bất ngờ Nam P1, T A và K đi 02 xe máy đến, tay cầm gạch chạy về phía nhóm D nên C, Minh A và T P bỏ chạy. Nam P1, T A dùng gạch đánh vào đầu D, K dùng chân tay đánh D. Khi người dân đến can ngăn, Nam P1, T A bỏ lại xe máy Honda Wave màu đen, BKS cất trong cốp xe rồi lên xe máy của K bỏ chạy. D khai trong lúc giằng co bị mất 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen.

Nguyễn Thị Hằng (sinh năm: 1984; Trú tại: 182 Bạch Đằng, phường C, quận H, Hà Nội) khai: Hằng đến cửa hàng Cirle K Lê Lai gặp D, T P, C và Minh A. Lúc này, Nam P1, T A và K đi 02 xe máy đến, tay cầm gạch đi về phía nhóm D nên C, T P, Minh A bỏ chạy. Nam P1, T A cầm gạch đánh vào đầu D, K dùng chân tay đánh D. Sau đó, chị Hằng vào can ngăn nên K, Nam P1, T A bỏ đi.

Phạm Minh A khai: Minh A đang đứng nói chuyện với nhóm D tại trước cửa hàng Cirle K số 01 Lê Lai. Nam P1, T A và K đi 02 xe máy đến, tay cầm gạch chạy về phía D nên Minh A bỏ chạy. Khi quay lại, Minh A thấy D bị chảy máu ở vùng đầu; còn K, Nam P1, T A bỏ chạy để lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29D2-424.73 để trong cốp xe.

Căn cứ vào tài liệu điều tra, ngày 15/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra

- C an quận H đã khởi tố bị can đối với Huỳnh Trần Nam P1, Phạm T A, Nguyễn Quang K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

* Đối với hành vi bắt người trái pháp luật:

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần gửi giấy mời Huỳnh Trần Nam P1 lên làm việc nhưng P từ chối. Mẹ đẻ Nam P1 (bà Trần Đào Thu Lệ Hằng) đã viết tường trình thay cho Nam P1 với nội dung bị nhóm của D đánh, ép lên xe máy đưa về số 117 Hàng Buồm ngày 01/9/2020.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích 1071/TTPY ngày 23 tháng 10 năm 2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Hà Nội kết luận thương tích của Huỳnh Trần Nam P1 như sau: Các chạm xương phần mềm vùng đầu, mặt, cổ, vai, gáy, vai phải, tay phải không tổn thương xương. Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khoẻ đối với các chạm thương này. Nhiều khả năng các chạm thương do vật tày gây nên.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hoàng D khai nhận: Minh A hẹn K ra quán nước Đình Kim Liên gặp nhóm D để nói chuyện. Khi K đến, D bảo K gọi Nam P1 và T A cùng ra nói chuyện. Khi Nam P1 và T A đến, D chửi “sao sáng nay chúng mày đánh tao” nhưng cả hai không nói gì. D, T P, C, T, H dùng chân tay đánh Nam P1 và T A. Có người dân vào can ngăn nên D bảo mọi người đưa Nam P1 và T A về số 117 Hàng Buồm còn D đi cùng K và Minh A về số 117 Hàng Buồm trước.

Nguyễn T P khai nhận phù hợp với lời khai của Trần Hoàng D. D1 điều khiển xe máy chở Nam P1 và T P, H điều khiển xe máy chở T A và T từ quán nước Đình Kim Liên đến khu vực C viên Thống Nhất gặp Doãn Hoàng P đi xe máy Honda Wave Alpha màu đen BKS: 29F1-53092 chở Đỗ Mạnh Tùng đến. T P dùng tay phải đấm 01 cái vào lưng Nam P1 và bảo Nam P1 sang xe của Hoàng P và Tùng rồi cùng D1 đến khu vực phố Nguyễn Đình Chiểu đổ xăng. Khi đến khu vực Trường THCS Lê Ngọc Hân (trên phố Thi Sách), H dùng tay chân đánh, đá vào lưng, chân của T A; Hoàng P dùng tay chân đấm đá vào đầu, lưng của Nam P1. T P cũng xuống xe dùng chân tay đánh, đá vào lưng của T A. Sau đó, D gọi điện bảo đưa Nam P1 và T A lên khu vực Hàng Buồm nên H lái xe chở T A và T P, Tùng lái xe chở Nam P1 và Hoàng P, D1 lái xe chở T đi lên khu vực Hàng Buồm. Khi đi đến số 112 Hàng Buồm, Hoàng P có dùng chân đá vào đầu Nam P1.

Bùi Thành C khai: Khi K và H đưa Nam P1 và T A đến quán nước Đình Kim Liên. D đứng dậy dùng tay đấm T A, T P dùng tay đấm Nam P1. C dùng chân phải đá vào mặt của Nam P1. Lúc này, D bảo “Cho chúng nó về Hàng Buồm”. D1 điều khiển xe Honda Wave xanh, không BKS chở Nam P1 ngồi giữa, T P ngồi sau. H điều khiển xe Honda màu đen chở T A ngồi giữa, T ngồi sau. C điều khiển xe máy đi một mình. D đi cùng K và Minh A. Khi đi đến khu vực đường Trần Nhân Tông, cả nhóm gặp Đỗ Minh Tùng điều khiển Honda Wave đen, BKS 29F1-530.92 chở Hoàng P. Đến phố Thi sách, xe máy của Tùng chở Nam P1 ngồi giữa, Hoàng P ngồi sau vượt lên đi về phía hướng Trường THCS Lê Ngọc Hân. Tại đây, Tùng và Hoàng P đỗ xe lại, kéo Nam P1 xuống đấm đá bằng chân tay, H và T cũng kéo T A xuống xe đánh. Hoàng P cũng lao vào đánh T A. C dùng tay đấm Nam P1 01 cái vào má. Khi về đến khu vực trước số 117 Hàng Buồm, Hoàng P kéo Nam P1 xuống xe, dùng chân tay đánh Nam P1 tiếp.

Doãn Hoàng P khai: T P gọi điện rủ Hoàng P đến Đình Kim Liên giải quyết việc D bị đánh. Hoàng P nhờ Tùng chở đến Đình Kim Liên nhưng không thấy ai. Hoàng P gọi điện cho T P biết cả nhóm đang ở gần rạp xiếc Trung Ương nên Tùng điều khiển xe máy chở Hoàng P đến C viên Thống Nhất gặp T P cùng D1 chở Nam P1 ngồi giữa. Do xe của T P và D1 hết xăng, Hoàng P bảo Nam P1 sang xe Tùng, dùng tay phải đấm vào thái dương Nam P1. Sau đó, Tùng chở Hoàng P và Nam P1 đến phố Thi Sách thấy 01 xe cùng nhóm lôi 01 người xuống để đánh, Hoàng P lôi Nam P1 xuống, dùng chân phải đá vào mặt Nam P1, dùng tay phải đấm vào mặt, ngực Nam P1. C, Tùng cũng lao vào đá Nam P1. Lúc này, Hoàng P bảo Tùng lên xe đưa Nam P1 về Hàng Buồm gặp D, Nam P1 vùng vằng nên Hoàng P lôi Nam P1 xuống dùng chân phải và lên gối vào đầu và mặt của Nam P1.

Đỗ Mạnh Tùng khai: Hoàng P bảo Tùng chở Nam P1 và Hoàng P đi theo nhóm bạn đến phố Thi Sách. Tại đây, mọi người kéo Nam P1 và 01 nam thanh niên (tức Phạm T A) xuống xe, đánh bằng tay chân. Tùng đấm Nam P1 01 cái vào mặt rồi tiếp tục chở Hoàng P và Nam P1 đi về số 117 Hàng Buồm.

Trần Anh T khai: Khi thấy Nam P1, T A đến Đình Kim Liên, T tát T A 02 cái; T P cùng D, Doãn Hoàng P, C, H, Mạnh Tùng dùng tay, chân đánh Nam P1 và T A. Sau đó, D nói cả nhóm đưa Nam P1 và T A về số 117 Hàng Buồm. Xe của T kẹp T A và H, xe của D1 kẹp Nam P1 và T P đến rạp xiếc Trung ương dừng lại đánh và đổi xe rồi cùng di chuyển đến ngã 4 Thi Sách dừng lại đánh tiếp. Trên đường đi, T dùng tay phải đánh vào má trái T A. Khi về đến Hàng Buồm, Hoàng P nhảy xuống đánh Nam P1.

Đến ngày 05/9/2021, Nguyễn Đức H đến C an quận H đầu thú và khai nhận: Khi Nam P1 và T A đến Đình Kim Liên, D chửi: “Chúng mày đánh tao à”. D, H, T, C, T P, D1 lao vào dùng chân tay đánh Nam P1 và T A. Sau đó, D nói cả nhóm đưa Nam P1 và T A về số 117 Hàng Buồm nói chuyện và đi cùng K, Minh A về trước. T P kéo Nam P1 Nam P1 lên ngồi sau xe máy do D1 điều khiển (xe kẹp 3, Nam P1 ngồi giữa). T kéo T A lên ngồi sau xe máy do H điều khiển (xe kẹp 3, T A ngồi giữa). Cả Nam P1 và T P bị đánh ép buộc đưa lên xe máy trái ý muốn. C điều khiển xe máy đi một mình. Khi di chuyển đến gần rạp xiếc Trung ương trên đường Trần Nhân Tông gặp Tùng điều khiển xe máy chở Hoàng P đến. Lúc này, Nam P1 và T A bị cả nhóm đánh bằng tay chân. Hoàng P kéo Nam P1 lên ngồi giữa xe máy do Tùng điều khiển đi đến phố Thi Sách. H, C, T, Tùng, Hoàng P, D1 đánh T A và Nam P1 bằng chân tay rồi tiếp tục đưa cả hai về số 117 Hàng Buồm. Tại đây, Hoàng P tiếp tục đánh Nam P1.

Huỳnh Trần Nam P1 khai: Khi Nam P1 và T A đến Đình Kim Liên, D nói: “Mày đánh bố mày như thế này à”; nhóm D (khoảng 10 người) lao vào đánh Nam P1 và T A rồi kéo vào quán nước nói chuyện. C đá Nam P1 02 cái vào mặt, cả nhóm kéo Nam P1 và T A lên xe máy đi đến khu vực đường Trần Nhân Tông thì dừng xe (trên đường đi Nam P1 bị H đấm vào miệng), T P giật tóc và đánh Nam P1 rồi tiếp tục chở Nam P1 đi trên đường khoảng 5-10m rồi chuyển Nam P1 sang 01 xe máy khác và tiếp tục đánh Nam P1 trên xe. Khi đến đoạn đường mới Thi Sách, cả nhóm dừng xe lại đánh Nam P1 rồi tiếp tục chở Nam P1 đến khu vực phố Hàng Buồm.

Phạm T A khai: Tại khu vực Đình Kim Liên, T A và Nam P1 bị nhóm D dùng chân tay đánh và chở ra khu vực trước cửa C viên Thống Nhất. Tại đây, 02 nam thanh niên chở T A dùng chân tay đánh T A, 02 nam thanh niên chở Nam P1 lao vào đánh P. Sau đó, tiếp tục đưa T A và Nam P1 đến khu vực Thi Sách đánh tiếp, T A bị ngất, khi tỉnh lại thấy đang ở trước cửa số 117 Hàng Buồm.

Nguyễn Quang K, Phạm Minh A khai phù hợp với lời khai của Trần Hoàng D. Tại Đình Kim Liên, D và các bạn dùng tay chân đánh Nam P1 và T A. D bảo mọi người đưa Nam P1 và T A đến 117 Hàng Buồm và đi cùng K và Minh A về trước. Các bạn của D chở Nam P1 và T A đi sau. Tại số 117 Hàng Buồm, các bạn D tiếp tục đánh Nam P1 và T A.

Nguyễn Quốc D1 khai: Tại khu vực Đình Kim Liên, T P dùng tay tát Nam P1, D dùng chân đánh T A và Nam P1, C dùng chân tay đánh Nam P1. Sau đó, D bảo cả nhóm: “Đưa chúng nó về 117 Hàng Buồm” rồi đi cùng K và Minh A về Hàng Buồm trước. T P kéo Nam P1 lên ngồi giữa xe máy do D1 điều khiển còn T P ngồi sau. T kéo T A lên ngồi giữa xe máy do H điều khiển còn T ngồi sau. Khi đến khu vực phố Lê Duẩn, cả nhóm Tùng điều khiển xe máy Honda wave chở Hoàng P nên đã chuyển Nam P1 sang xe của Hoàng P. Hoàng P kéo Nam P1 từ xe D1 sang xe Tùng, quá trình chuyển xe, T đã dùng tay tát Nam P1 02 cái, Hoàng P dùng tay tát Nam P1 2-3 cái. H kéo T A ra khỏi xe cùng Hoàng P, T P, T dùng chân tay đánh T A. Sau đó, H chở T A và T, D1 chở T P đi đến phố Thi Sách. Tại đây, Hoàng P kéo Nam P1 xuống xe cùng với Tùng dùng tay chân đánh Nam P1, H kéo T A xuống xe cùng với T, Hoàng P dùng chân tay đánh T A. Đánh xong, T sang ngồi sau xe D1, Hoàng P kéo Nam P1 lên ngồi giữa xe Tùng, H chở T A. Cả nhóm tiếp tục đưa T A và Nam P1 về khu vực phố Hàng Buồm. Khi về đến phố Hàng Mắm, P nhảy sang xe H ngồi để giữ T A. Khi đến số 117 Hàng Buồm, Hoàng P túm tóc kéo Nam P1 ra xuống xe và dùng tay chân đánh Nam P1.

Như vậy, Trần Hoàng D, Bùi Thành C, Nguyễn T P, Đỗ Mạnh Tùng, Doãn Hoàng P, Trần Anh T, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc D1 không có thẩm quyền, không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã nhưng đã có hành vi dùng vũ lực (đánh, đấm bằng chân tay), lôi kéo, ép buộc Huỳnh Trần Nam P1 và Phạm T A lên xe máy ngồi kẹp giữa để đưa cả hai từ khu vực Đình Kim Liên, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội đến khu vực số 117 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận H, Hà Nội trái ý muốn.

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 15/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an quận H đã khởi tố bị can đối với Trần Hoàng D, Bùi Thành C, Nguyễn T P, Đỗ Mạnh Tùng, Doãn Hoàng P, Trần Anh T về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Ngày 06/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an quận H đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức H về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Quốc D1, tại thời điểm thực hiện hành vi bắt người trái pháp luật mới 14 tuổi 04 tháng 24 ngày (dưới 16 tuổi). Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự, D1 không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nên C an quận H đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS 29D2- 424.73, quá trình điều tra xác định là của chị Nguyễn Thị Minh Hằng (mẹ của Phạm T A, T A mượn xe máy làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội). Ngày 07/9/2021, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị Hằng. Sau khi nhận lại xe máy, chị Hằng không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với các xe máy gồm: 01 xe máy Honda Wave BKS 29E2-490.71, 01 xe máy Honda Wave BKS 29D2-333.34, 01 xe máy Honda Wave BKS 29Z1-595.86. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy Honda Wave BKS 29E2-490.71 là của anh Nguyễn Diệp Quân. Anh Quân không biết việc con trai là Nguyễn Quang K sử dụng xe máy làm phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chiếc xe máy Honda Wave BKS 29D2-333.34 là của chị Bùi Tú Anh. Chị Tú Anh cho em trai là Bùi Thành C mượn xe để đi lại, không biết việc C sử dụng xe máy làm phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chiếc xe máy Honda Wave BKS 29Z1-595.86 là của chị Nguyễn Thị Thúy. Chị Thúy không biết việc em họ là Nguyễn Quốc D1 sử dụng xe máy làm phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, Cơ quan điều tra không thu giữ đối với các xe máy trên.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS 29F1-530.92, quá trình điều tra xác định là của Đỗ Mạnh Tùng. Cuối năm 2020, Tùng đã bán chiếc xe máy cho một người không quen biết (không rõ tên tuổi, địa chỉ) nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh để thu hồi xử lý.

Cáo trạng số 238/CT - VKS ngày 14/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố Huỳnh Trần Nam P1, Phạm T A, Nguyễn Quang K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Hoàng D, Bùi Thành C, Nguyễn T P, Đỗ Mạnh Tùng, Doãn Hoàng P, Trần Anh T, Nguyễn Đức H về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Ngày 22/12/2021, bị hại trong vụ án là Trần Hoàng D có đơn xin rút yêu cầu khởi tố, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can Huỳnh Trần Nam P1, Phạm T A, Nguyễn Quang K và không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Việc Trần Hoàng D rút yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái ý muốn và không bị ép buộc, cưỡng bức.

Ngày 10/01/2022, Toà án nhân dân quận H đã ra Quyết đình đình chỉ xét xử số 01/2022/HSST- QĐ đối với các bị cáo Huỳnh Trần Nam P1, Phạm T A và Nguyễn Quang K bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HSST ngày 27/01/2022 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng D, Nguyễn T P phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.

Căn cứ các điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng D 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn T P 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về điều luật, tội danh và mức hình phạt đối với 05 bị cáo khác, tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/01/2022 và ngày 08/02/2022, bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P lần lượt có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Trần Hoàng D, Nguyễn T P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt 30 tháng tù đối với mỗi bị cáo là phù hợp.

Bị cáo Trần Hoàng D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Hoàng D.

Bị cáo Nguyễn T P có nhân thân xấu, đã bị Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T P.

Cụ thể:

- Áp dụng các điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoàng D 30 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Áp dụng các điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn T P 30 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”, tổng hợp với mức hình phạt 24 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 54 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 01/9/2020, Huỳnh Trần Nam P1, Phạm T A và Nguyễn C K đã có hành vi dùng chân tay, gạch đánh Trần Hoàng D gây tổn hại sức khoẻ 02% tại khu vực trước cửa hàng Circle K - Số 01 phố Lê Lai, phường Lý Thái Tổ, quận H, thành phố Hà Nội.

Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, D hẹn gặp Nam P1, T A, K tại khu vực Đình Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội để nói chuyện. Tại đây, D cùng Bùi Thành C, Nguyễn T P, Trần Anh T, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc D1 dùng tay chân đánh Nam P1 và T A. Sau đó, D chỉ đạo cả nhóm đưa Nam P1 và T A về số 117 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận H, thành phố Hà Nội để nói chuyện nên C, P, T, H, D1, Đỗ Mạnh Tùng và Doãn Hoàng P đã dùng vũ lực (đánh, đấm bằng chân tay), lôi kéo, ép buộc Nam P1 và T A lên xe máy ngồi kẹp giữa rồi đưa cả hai từ khu vực Đình Kim Liên, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đến khu vực số 117 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận H, thành phố Hà Nội trái ý muốn.

Hành vi của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P đã cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” với các tình tiết “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người dưới 18 tuổi”. Tội danh và hình phạt được quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và bị cáo Nguyễn T P, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, đặc biệt là xâm hại đến người chưa thành niên, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; mức hình phạt 30 tháng tù đối với mỗi bị cáo là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Hoàng D xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo có thành tích trong thi đấu thể thao, ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo Nguyễn T P không xuất trình tài liệu gì mới. Xét bị cáo Trần Hoàng D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo D cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bị cáo Nguyễn T P có nhân thân xấu (Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”) nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo P, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo P.

Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Hoàng D nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn T P nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng D và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo D:

Áp dụng các điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng D 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phường C, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Trần Hoàng D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Hoàng D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn T P, giữ nguyên Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo P:

Áp dụng các điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn T P 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”, tổng hợp với mức hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2021 đến ngày 17/9/2021.

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Hoàng D không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn T P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/8/2022.

Cỡ chữ