- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 665 tội sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 665/2026/HS-ST Ngày: 17-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh C
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Q
Bà Phan Thị Thanh H
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy V - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Đình T - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 623/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 662/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Hồng Q, Giới tính: Nam;
CCCD: 001xxxxx5453 cấp ngày 10/8/2023, Nơi cấp: Bộ công an.
Sinh ngày 19 tháng 05 năm 1983 tại: thành phố Hà Nội;
Nguyên quán: phường T, thành phố H;
Nơi thường trú:Tổ Dân Phố Số X ĐT,phường T,TP H;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông: Bùi Hồng Q1, sinh năm 1958
Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1958;
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn.
Vợ: Vương Thị L (đã ly hôn)
Có 01 con, sinh năm 2007
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Bản án số 465/2013/HSST ngày 26/08/2013 của TAND quận Đống Đa xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (đã xoá án tích)
+ Bản án số 34/2017/HSST ngày 23/02/2017 TAND quận Nam T xử phạt 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” (đã xoá án tích)
+ Bản án số 292/2018/HSST ngày 20/11/2018 của TAND quận Nam T xử phạt 18 tháng tù về tội “Đe doạ giết người” (đã xoá án tích)
+ Ngày 30/01/2024 Toà án quận Nam T, Hà Nội ra Quyết định số 14 về việc đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng.
Bị bắt khẩn cấp ngày 06/5/2026, Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Hà Nội;
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/5/2026, Công an phường T, thành phố H nhận tin báo từ quần chúng nhân dân về đối tượng Bùi Hồng Q (Sinh năm: 1983; HKTT: Tổ Dân Phố Số X ĐT,phường T,TP H) có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Công an phường T tiến hành mời Bùi Hồng Q đến trụ sở để làm việc. Tiến hành test ma túy qua nước tiểu của Q cho kết quả dương tính với ma túy loại MET. Tại Cơ quan Công an, Q khai nhận tối ngày 05/5/2026 có sử dụng ma túy “đá” tại nhà một mình. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản và niêm phong mẫu nước tiểu của Q để phục vụ công tác giám định.
Kết luận giám định độc chất số 635/2026/KLGDĐC-TTPY Hà Nội kết luận: Mẫu nước tiểu thu giữ của Bùi Hồng Q: Có tìm thấy Methamphetamine, Amphetamine.
Tại Cơ quan điều tra Bùi Hồng Q khai nhận: Bản thân Q không có công ăn việc làm, thường hay sử dụng ma túy “đá”, Q bị đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 14 ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam T (cũ), trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày 30/12/2023 đến ngày 30/12/2025. Sau khi cai nghiện về ngày 12/3/2026 Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội có quyết định số: 318 về việc Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Bùi Hồng Q trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 12/3/2026 đến ngày 12/3/2027. Khoảng 18h ngày 05/5/2026, Q có nhu cầu sử dụng ma túy nên Q đã đi đến trước số nhà 10 ngách 402/76/20 đường Mỹ Đình, phường T, thành phố Hà Nội mua của nam thanh niên tên Hậu (không có nhân thân, lai lịch) 400.000 đồng ma túy “đá”, Hậu bảo Q cứ về nhà chờ rồi Hậu sẽ mang ma túy qua sau. Khoảng 30 phút sau thì Hậu đưa ma túy cho Q. Sau khi có được ma túy thì Q đã sử dụng một phần số ma túy trên, đến khoảng 21 giờ thì Q tiếp tục sử dụng nốt số ma tuy còn lại. Đến khoảng 09 giờ ngày 06/5/2026, thì Công an phường T đến nhà mời Q về trụ sở để làm việc, thu mẫu nước tiểu của Q để giám định.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Bùi Hồng Q tên H, do không rõ nhân thân và lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 365/CT-VKSBTL, ngày 14/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội đã truy tố Bùi Hồng Q về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Hồng Q từ 30 ( Ba mươi) tháng đến 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù; vật chứng: Không. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân Khu vực 4 - Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bùi Hồng Q là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 318 ngày 12/3/2026 của UBND phường T, kể từ ngày 12/3/2026 đến ngày 12/3/2027.
Trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý Q vẫn sử dụng ma tuý.
Ngày 06/5/2026, Công an phường Tđã tiến hành xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu của Q cho kết quả dương tính với ma tuý loại: Methamphetamine, Amphetamine.
Hành vi đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy lại tiếp tục sử dụng ma túy của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Do vậy, Viện kiểm sát khu vực 4 - Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3]. Quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, đang trong thời gian cai nghiện nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị xử phạt về hành vi vi phạm pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, nên cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Về vật chứng: Không
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 – Bộ
luật hình sự
- Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hồng Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Hồng Q 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2026
4. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Khu vực 4 -HN; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội;`` - Công an TP Hà Nội; - Chi cục THADS Hà Nội; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Quỳnh C |