vanban.org

Bản án 664/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/12/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

17, 18, 29, 40, 41, 46 và 47 Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị quyết 01/2019/NQ-

HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm — án dân sự — "Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH với Tổng Công ty Bảo hiểm BV"
  • Tòa quyết gì? 17, 18, 29, 40, 41, 46 và 47 Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị quyết 01/2019/NQ-
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 280 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 664/2021/DS-PT
Ngày:13/12/2021
V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Giảng

Các Thẩm phán:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

2. Bà Võ Thị Kim Thương.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Bà Hoàng Anh Nga - Kiểm sát viên.

Vào ngày 13/12 /2021, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2021/TLPT-

DS ngày 19 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 107/2021/DS-ST ngày 03 tháng 02 năm

2021 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2198/QĐ-PT ngày 20

tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH.

Địa chỉ: xx NT, Phường y, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh M, địa chỉ: xxxx

DBT, Phường x, Quận y, Thành phố Hồ Chí Minh, (Văn bản ủy quyền số

01/UQ/2020 ngày 20/10/2020).

2. Bị đơn: Tổng Công ty Bảo hiểm BV.

Trụ sở: xxx THĐ, phường CN, quận H K, Thành phố Hà Nội

Địa chỉ chi nhánh Công ty BV PM - Tòa nhà PS, 186 – 186 Bis NTMK,

Phường y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thế T (Văn bản ủy quyền số

6176/UQ-BHBV ngày 16/11/2020) – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 20/10/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn

Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH có bà Nguyễn Thị Thanh M là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 17 tháng 4 năm 2018, Công ty TNHH Dịch Vụ Vận Tải TH và

Công ty BV PM ký kết hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số KL000276/HD/XO/BVPM/P.02/2018, đối tượng bảo hiểm là xe ôtô Honda CRV 2.4 AT biển kiểm soát 51F-185.14, số khung RLHRM3857FY500857, số máy K24Z99040858. Hợp đồng có hiệu lực bảo hiểm từ lúc 00 giờ 00 phút ngày 17/05/2018 đến lúc 23 giờ 59 phút ngày 16/05/2019. Giá trị thị trường của chiếc xe ôtô tại thời điểm ký kết hợp đồng là 850.000.000 đồng, phí bảo hiểm là 12.430.700 đồng.

Ngày 06 tháng 4 năm 2019, Công ty TH gọi điện thoại đến Hotline BV

yêu cầu sửa chữa bảo hiểm đối với chiếc xe nêu trên do bị hư hỏng, trầy xước khi lưu thông trên đường. Giám định viên BV đã hướng dẫn, tư vấn và thuyết phục Công ty mang xe vào xưởng sửa chữa One Plus Auto (đơn vị có liên kết sửa chữa với BV) thay vì chọn sửa chữa chính hãng để được giải quyết thủ tục đền bù bảo hiểm nhanh chóng.

Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 14 tháng 4 năm 2019, tại Chi nhánh Công ty

TNHH Ô tô Tân Minh N (Xưởng sửa chữa One Plus Auto), địa chỉ: xxxx NTĐ, phường Thạnh Mỹ L, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra vụ cháy. Sự việc đã làm cháy toàn bộ xe ôtô Honda CRV 51F-185.14, không thể sửa chữa, phục hồi. Nhận được thông tin, Công ty TH lập tức thông báo cho BV và đã phối hợp, bổ sung, cung cấp tài liệu, thực hiện mọi nghĩa vụ khai báo hồ sơ bồi thường theo hướng dẫn của Giám định viên. Tuy nhiên, từ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm đến thời điểm hiện tại, Công ty vẫn chưa nhận được kết quả giải quyết của Tổng Công ty Bảo hiểm BV.

Công ty TH đã nhiều lần gửi công văn khiếu nại đến các cơ quan chức

năng có liên quan và yêu cầu BV thực hiện nghĩa vụ bồi thường nhanh chóng, kịp thời toàn bộ thiệt hại xe ôtô nêu trên. Tuy nhiên, BV lấy lý do đợi kết luận điều tra của cơ quan Công an mà không giải quyết đền bù bảo hiểm. Việc chậm trễ giải quyết bảo hiểm của BV gây thiệt hại tài chính nghiêm trọng, Công ty không có phương tiện đi lại phục vụ công việc và bị buộc phải tất toán khoản vay trước thời hạn tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần QD (NCB) – Chi nhánh Sài Gòn.

Tổng Công ty Bảo hiểm BV lấy lý do chờ kết luận điều tra để làm cơ sở

giải quyết bồi thường là hành động cố tình thoái thác, tránh né trách nhiệm đền bù đối với thiệt hại xe Honda CRV 51F-185.14, đi ngược lại nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm và những cam kết giữa hai bên được quy định tại Hợp đồng.

Nay Công ty TNHH Dịch Vụ Vận Tải TH khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc

Tổng Công ty Bảo hiểm BV đền bù toàn bộ thiệt hại vật chất ôtô Honda CRV

2.4AT, biển kiểm soát 51F-185.14 với số tiền bảo hiểm là 730.000.000 đồng,

theo đúng nội dung được quy định tại Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số

KL000276/HD/XO/BVPM/P.02/2018.

Tại Văn bản số 6375/BHBV-GĐBT XCG ngày 25/11/2020, bản tự khai

ngày 04/12/2020 và các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn Tổng Công ty Bảo

hiểm BV có ông Lê Thế Thắng là người đại diện theo ủy quyền trình bày như

sau:

Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH và Tổng Công ty Bảo hiểm BV đã ký

kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số

KL000276/HD/XO/BVPM/P.02/2018 ngày 17/4/2018. Đối tượng bảo hiểm là

xe ô tô Honda CRV 51F-185.14 giá trị 850.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm từ

ngày 17/5/2018 đến ngày 16/5/2019, số tiền bảo hiểm tối đa đối với bảo hiểm

vật chất xe là 850.000.000 đồng. Thời điểm xảy ra thiệt hại tranh chấp, thời hạn

bảo hiểm vẫn còn hiệu lực.

Ngày 14/4/2019 xảy ra vụ cháy xưởng xửa chữa xe ô tô của Chi nhánh

Công ty TNHH Ô tô Tân Minh N, địa chỉ xxxx NTĐ, phường Y, Quận 2. Sự

việc đã gây cháy toàn bộ, thiệt hại hoàn toàn xe ô tô Honda CRV 51F-185.14.

Nguyên nhân của vụ cháy là do: “Bị tác động nhiệt cháy lan từ khu vực đốt các

vật dụng tại bãi đất trống phía sau tiếp giáp với xưởng sửa chữa ô tô, từ đây đám

cháy phát triển đi các hướng gây cháy lớn”, đúng như nội dung Kết luận giám

định số 2528/C09B ngày 30/5/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành

phố Hồ Chí Minh. Trước đó, xe ô tô Honda CRV 51F-185.14 trong quá trình sử

dụng đã xảy ra va quẹt với xe gắn máy dẫn đến trầy sướt vỏ ngoài. Bảo hiểm BV

đã tiến hành giám định đánh giá thiệt hại khoảng 10.000.000 đồng. Chiếc xe

được chủ sở hữu mang đến xưởng nêu trên để tiến hành sửa chữa, trong thời

gian này thì xảy ra vụ cháy dẫn đến thiệt hại toàn bộ xe.

Thời điểm khởi kiện, Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH đã tất toán toàn

bộ khoản vay tại Ngân hàng TMCP Quốc D (NCB) – Chi nhánh Sài Gòn. NCB

đã có Văn bản số 02/2020/XN-NCB-TTDN BT ngày 01/10/2020 xác nhận dư

nợ và chuyển giao toàn bộ quyền thụ hưởng từ việc đền bù bảo hiểm đối với xe

ô tô Honda CRV 51F-185.14 theo nội dung của Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới

số KL000276/HD/XO/BVPM/P.02/2018 ngày 17/4/2018. NCB không còn

quyền và nghĩa vụ liên quan trong Hợp đồng bảo hiểm này, Công ty TNHH

Dịch vụ Vận tải TH là tổ chức duy nhất được hưởng quyền lợi bảo hiểm.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tổng Công ty Bảo hiểm BV

không đồng ý vì thời điểm xảy ra vụ cháy, xe ô tô Honda CRV 51F-185.14 đang

trong quá trình sửa chữa. Căn cứ quy định tại Điều 12, Mục 12.12 của Quy tắc

bảo hiểm vật chất xe ô tô ban hành kèm theo Quyết định số 6556/QĐ-BHBV:

“… Loại trừ bảo hiểm trong các trường hợp … Hao mòn, hỏng hóc do sử dụng,

lão hóa, mất giá, hỏng hóc do khuyết tật hoặc tổn thất thêm do sửa chữa, trong

qua trình sửa chưa (gồm cả chạy thử)”, tổn thất của xe ô tô Honda CRV 51F-

185.14 không thuộc trách nhiệm của Bảo hiểm BV.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 107/2021/DS-ST ngày 03/02/2021, Tòa án

nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải

TH:

Tổng Công ty Bảo hiểm BV có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm cho

Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH số tiền 730.000.000 đồng (Bảy trăm ba mươi triệu đồng) đối với thiệt hại vật chất của xe ô tô nhãn hiệu HONDA, biển số đăng ký: 51F-185.14, số loại: CR-V, số máy: K24Z99040858, số khung: 3857FY500857. Việc thanh toán được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH có đơn yêu cầu thi hành

án, nếu Tổng Công ty Bảo hiểm BV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc thanh toán thì hàng tháng Tổng Công ty Bảo hiểm BV còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Tổng Công ty Bảo hiểm BV phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là

33.200.000 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Trả lại cho Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH số tiền tạm ứng án phí đã

nộp là 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0032560 ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, kháng nghị và các

quy định về thi hành án dân sự.

- Ngày 08/02/2021, bị đơn Tổng Công ty Bảo hiểm BV có đơn kháng cáo

toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại sơ thẩm vụ án. Lý do: Bản án sơ thẩm không khách quan, không phù hợp hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Ngày 04/6/2021, bị đơn bổ sung đơn kháng cáo (chi tiết) yêu cầu: Sửa

toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Triệu tập Công ty TNHH Ô tô Tân Minh N tham gia tố tụng trong vụ án vì có nghĩa vụ liên quan; Trưng cầu ý kiến của Cơ quan cảnh sát điều tra về trách nhiệm của người liên quan trong vụ cháy làm cơ sở xác định nghĩa vụ bồi thường của họ; Đánh giá toàn diện khách quan về điều khoản loại trừ bảo hiểm quy định tại khoản 12 Điều 12 Quy tắc bảo hiểm, trong trường hợp tại vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người

kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp

luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, phân tích nhận định về nội dung

kháng cáo của đương sự, đã nhận xét và đề nghị như sau:

- Về tố tụng: Giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các

quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.

- Về nội dung:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Đơn kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ

tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, việc

thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo

đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập phù hợp với sự thừa nhận của

nguyên đơn và bị đơn, có cơ sở xác định những vấn đề như sau: Nguyên đơn và

bị đơn đã ký kết Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số KL000276/HD/XO/BVPM

/P.02/2018 ngày 17/4/2018. Đối tượng bảo hiểm là xe ô tô Honda CRV 51F-

185.14. Thời điểm xảy ra thiệt hại có tranh chấp, thời hạn bảo hiểm vẫn còn hiệu

lực. Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH là tổ chức duy nhất được hưởng quyền

lợi bảo hiểm đối với Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số

KL000276/HD/XO/BVPM /P.02/2018 ngày 17/4/2018. Theo chỉ định của bị

đơn, nguyên đơn đưa xe đến Chi nhánh Công ty TNHH Ô tô Tân Minh N

(Xưởng sửa chữa One Plus Auto), là đơn vị liên kết với bị đơn, để tiến hành sửa

chữa xe theo hợp đồng bảo hiểm, trong thời gian này thì xảy ra vụ cháy dẫn đến

thiệt hại toàn bộ xe. Nguyên nhân của vụ cháy được xác định là: “Bị tác động

nhiệt cháy lan từ khu vực đốt các vật dụng tại bãi đất trống phía sau tiếp giáp với

xưởng sửa chữa ô tô, từ đây đám cháy phát triển đi các hướng gây cháy lớn”.

Xét nội dung kháng cáo của bị đơn về việc đưa Công ty TNHH Ô tô

Tân Minh N tham gia tố tụng trong vụ án vì có nghĩa vụ liên quan và Trưng cầu

ý kiến của Cơ quan cảnh sát điều tra về trách nhiệm của người liên quan trong

vụ cháy làm cơ sở xác định nghĩa vụ bồi thường của họ.

Tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn liên quan trong phạm vi bồi

thường theo Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới số KL000276/HD/XO/BVPM

/P.02/2018 ngày 17/4/2018. Tại Điều 7 Quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô ban

hành kèm theo Quyết định số 6556/QĐ-BHBV ngày 28/12/2016 của Tổng công

ty Bảo hiểm BV quy định về liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba thì “Chủ xe phải bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho BV”. Tại vụ án này, bị đơn không có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề liên quan đến người thứ ba mà bị đơn chỉ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bên thứ ba trong trường hợp này là đơn vị liên kết với bị đơn, do bị đơn chỉ định trong việc sửa chữa bảo hiểm cho chủ xe. Việc sơ thẩm giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không cần phải đưa Công ty TNHH Ô tô Tân Minh N tham gia tố tụng là không vi phạm tố tụng. Bị đơn kháng cáo yêu cầu đưa Công ty TNHH Ô tô Tân Minh N tham gia tố tụng là không có căn cứ chấp nhận. Các tài liệu chứng cứ cấp sơ thẩm đã thu thập có đầy đủ cơ sở vững chắc để giải quyết vụ án vì vậy không cần “Trưng cầu ý kiến của Cơ quan cảnh sát điều tra về trách nhiệm của người liên quan trong vụ cháy làm cơ sở xác định nghĩa vụ bồi thường của họ” như yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đồng thời Bộ luật tố tụng dân sự cũng không quy định về thủ tục này.

Bị đơn viện dẫn Điều 12.12 của bản quy tắc quy định về loại trừ bảo

hiểm là “Hao mòn, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, hỏng hóc do khuyết tật hoặc tổn thất thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (gồm cả chạy thử)”, từ đó không chấp nhận trách nhiệm bồi thường. Xét thấy, sự việc hỏa hoạn gây cháy xe trong trường hợp tại vụ án không phải từ nguyên nhân do sửa chữa, cũng không phải là nguyên nhân hay hậu quả của quá trình sửa chữa xe gây ra. Các bên đều đã cùng thừa nhận xác định nguyên nhân của vụ cháy do “Bị tác động nhiệt cháy lan từ khu vực đốt các vật dụng tại bãi đất trống phía sau tiếp giáp với xưởng sửa chữa ô tô, từ đây đám cháy phát triển đi các hướng gây cháy lớn”. Bị đơn là bên soạn thảo và đưa ra hợp đồng mẫu, nay lại viện vào câu từ “quá trình sữa chữa” để từ chối trách nhiệm bồi thường là không phù hợp ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng, đặc biệt hơn ý kiến lập luận của bị đơn là hoàn toàn mâu thuẫn với quy định về phạm vi bồi thường tại Điều 8 của bản quy tắc do chính bị đơn ban hành.

Tại Điều 8 Quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô ban hành kèm theo Quyết định

số 6556/QĐ-BHBV ngày 28/12/2016 của Tổng công ty Bảo hiểm BV quy định về phạm vi bảo hiểm: “Những tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của chủ xe, lái xe trong những trường hợp: ..., hỏa hoạn, cháy,...”. Quy định này thỏa mãn điều kiện thuộc phạm vi bảo hiểm, theo đúng thực tế khách quan của vụ việc là chiếc xe của nguyên đơn bị cháy do hỏa hoạn và nằm ngoài sự kiểm soát của chủ xe, lái xe.

Bản án sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật, phù hợp với toàn bộ chứng cứ

của vụ án nên kháng cáo của bị đơn yêu cầu hủy hay sửa án sơ thẩm đều không có căn cứ chấp nhận, như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo

nên người kháng cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 385, 280 Bộ luật dân sự năm 2015; Các điều 12, 13, 14, 15,

17, 18, 29, 40, 41, 46 và 47 Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị quyết 01/2019/NQ-

HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

và Luật thi hành án dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ

thẩm số 107/2021/DS-ST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải

TH:

Tổng Công ty Bảo hiểm BV có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm cho

Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH số tiền 730.000.000 đồng (Bảy trăm ba

mươi triệu đồng) đối với thiệt hại vật chất của xe ô tô nhãn hiệu HONDA, biển

số đăng ký: 51F-185.14, số loại: CR-V, số máy: K24Z99040858, số khung:

3857FY500857. Việc thanh toán được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực

pháp luật.

Kể từ ngày Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH có đơn yêu cầu thi hành

án, nếu Tổng Công ty Bảo hiểm BV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ việc thanh toán số tiền trên thì Tổng Công ty Bảo hiểm BV còn phải chịu

khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại

Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Tổng Công ty Bảo hiểm BV phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là

33.200.000 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Trả lại cho Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải TH số tiền tạm ứng án phí đã

nộp là 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu

số AA/2019/ 0032560 ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân

sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí phúc thẩm: Tổng Công ty Bảo hiểm BV phải chịu 300.000 đồng;

trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng (Biên lai thu AA/2019/0032904

ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí

Minh).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành

án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ