- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vũ Thị Kim C-Jacqueline L"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 664/2020/DS-ST |
Ngày: 29/5/2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Trường Sơn
2. Bà Lê Thị Nhanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Anh Nga – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/DSST ngày 05 tháng 8 năm
2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1770/2020/QĐST-DS ngày
22/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 4183/2020/QĐ-ST ngày 12/5/2020,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim C, sinh năm: 1973;
Địa chỉ: 42/38 N, Phường M, Quận B,Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà La Thị Thủy T, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khóm 2, Phường 7, Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 29/05/2019 tại Phòng công chứng số 1 Thành phố
Hồ Chí Minh).
2. Bị đơn: Bà Jacqueline L, sinh năm 1969
Địa chỉ: Căn hộ 12B.11, L2, 208 đường U (720A đường Đ), Phường A, quận
N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/07/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C và người đại diện theo ủy quyền là bà La Thị Thủy T trình bày:
Ngày 06/02/2019, nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C đã ký Thỏa thuận vay
tiền số 003 với bà Jacqueline L nội dung: Nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 90.000 USD tương đương 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 04 tháng từ ngày 06/02/2019 đến ngày 06/6/2019, lãi suất 0%/năm, nếu sau ngày 06/6/2019 mà bị đơn chưa trả nợ thì lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (12%/năm). Thời hạn tối đa phải trả nợ là ngày 06/8/2019.
Tuy nhiên, sau ngày 06/6/2019 nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ với bị đơn
yêu cầu trả tiền nhưng không liên lạc được và đến nay bị đơn vẫn chưa hoàn trả số tiền mà bị đơn đã vay cho nguyên đơn.
Do đó, nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C khởi kiện yêu cầu bà Jacqueline L
trả nợ gốc và lãi đối các Thỏa thuận vay tiền số 002 ngày 06/02/2019 yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn - bà Jacqueline L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên
không có ý kiến trình bày
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C có người đại diện theo ủy quyền là bà La
Thị Thủy T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi đối với khoản tiền vay theo Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019.
Đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Jacqueline L hoàn trả lại cho
bà Cúc số tiền 90.000 USD tương đương 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng) theo Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019. Xác định thời điểm cho vay đã giao bằng tiền đồng Việt Nam cho phía bị đơn.
Bị đơn – bà Jacqueline L vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án nhận thấy Thẩm phán đã chấp
hành đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án Viện kiểm sát đề nghị: Tại phiên tòa, người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn đã yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C về yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền vay. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu này. Đối với số tiền gốc đã quá hạn thanh toán theo thỏa thuận vay tiền, nguyên đơn xác định mặc dù hợp đồng vay có ghi ngoại tệ nhưng thực tế giao bằng tiền Việt Nam nên hợp đồng không vi phạm
điều cấm của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đòi lại số nợ
gốc của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày của đương sự, nguyên đơn – bà
Vũ Thị Kim C khởi kiện yêu cầu bà Jacqueline L hoàn trả lại cho bà số tiền số
tiền 90.000 USD tương đương 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm
mươi triệu đồng) theo Thỏa thuận vay tiền số 003 cùng ngày 06/02/2019. Do đó,
quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ Điều
385 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì
đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
Theo kết quả xác minh của Cục quản lý xuất nhập cảnh thì bà Jacqueline L
xuất nhập cảnh qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất 221 lần, nhập cảnh gần nhất
ngày 09/8/2018, chưa có thông tin xuất cảnh.
Do bị đơn – bà Jacqueline L là người nước ngoài đang tạm trú có thời hạn tại
Việt Nam nên căn cứ khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có
thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn - bà Jacqueline L đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Theo nội dung các
Thỏa thuận vay tiền thể hiện địa chỉ cư trú của bị đơn là căn hộ 12B.11, L2 208 U,
Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo văn bản chứng nhận số nhà
số 1187/CN-UBND ngày 29/7/2014 của Ủy ban nhân dân quận B thì Khu phức
hợp Tân Cảng Sài Gòn, Phường A quận B của Tổng công ty G được mang số
720A đường Đ, Phường Phường A quận B. Đồng thời theo Biên bản xác minh
ngày 25/5/2020 tại tòa nhà L2, 720A đường Đ, Phường A, quận B thể hiện bà
Jacqueline L có cư trú tại căn hộ 12B.11, L2 từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 01
năm 2010. Ngoài địa chỉ trong Thỏa thuận vay tiền thì nguyên đơn không cung
cấp được thêm địa chỉ nào khác của bị đơn. Theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì trường hợp này xem
như người bị kiện thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi
cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật
dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết
theo thủ tục chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản
tố tụng cho bị đơn tại địa chỉ trên tuy nhiên bị đơn không có mặt tại thời điểm
tống đạt nên Văn phòng Thừa phát lại Quận 1 tiến hành niêm yết theo quy định. Xét thấy, việc tống đạt các văn bản tố tụng là phù hợp theo quy định tại Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên được xem là tống đạt hợp lệ. Bị đơn - bà Jacqueline L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn – bà Jacqueline L.
[3] Xét việc thoả thuận vay nợ giữa nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C với bị
đơn – bà Jacqueline L diễn ra vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực. Do đó Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét giải quyết nội dung vụ án.
[4] Về hình thức của Thỏa thuận vay tiền: Đối với hợp đồng vay tài sản
không có quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực, do đó Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019 được các bên ký kết phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý. Thời hạn bị đơn phải trả tiền vay cho nguyên đơn theo Thỏa thuận vay tiền số 003 là đến ngày 06/6/2019, thời hạn tối đa để trả nợ đối với các thỏa thuận vay này là ngày 06/8/2019. Nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bị đơn trả tiền nhưng không liên lạc được. Đến nay bị đơn vẫn không thanh toán các khoản tiền vay cho nguyên đơn. Xét, việc bị đơn không trả tiền vay cho nguyên đơn là có vi phạm thỏa thuận theo Thỏa thuận vay tiền đã ký kết. Do đó, Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[5] Nguyên đơn chỉ yêu cầu bà Jacqueline L trả tiền gốc đã vay, ngoài ra
không yêu cầu chồng của bị đơn cùng liên đới trả nợ, do đó xét thấy không cần thiết đưa chồng của bị đơn vào tham gia tố tụng.
Đối với chồng của bà Vũ Thị Kim C là ông Gary R cũng có văn bản xác nhận
số tiền cho vay là tài sản riêng của bà Cúc, đồng thời từ chối tham gia tố tụng, do đó cũng không cần thiết đưa ông Gary Rn vào tham gia tố tụng trong vụ án.
[6] Xét nội dung vụ án:
[6.1] Về việc xác định vốn gốc theo các Thỏa thuận vay tiền:
Theo Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019 thể hiện bà Vũ Thị Kim C
có cho bà Jacqueline L, sinh năm 1969, Hộ chiếu số PE0370463 cấp ngày 23/01/2015 tại Úc vay số tiền 90.000 USD tương đương 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 04 tháng tính từ ngày 06/02/2019 đến ngày 06/6/2019, lãi suất 0%/năm, nếu sau ngày 06/6/2019 mà bên B vẫn chưa trả nợ thì lãi quá hạn sau ngày 06/6/2019 là 12%/năm, thời hạn tối đa bên B phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi là ngày 06/8/2019. Bên A đã giao tiền cho bên B đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng như đã thỏa thuận. Thỏa thuận vay tiền có chữ ký của bên A là bà Vũ Thị Kim C và bên B là bà Jacqueline L.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Kim C
xác định thỏa thuận vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn được thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam. Việc trong hợp đồng ghi nhận giá trị Đô la Mỹ là do bà Jacqueline L là người nước ngoài nên nguyên đơn quy đổi ra Đô la Mỹ cho bị đơn dễ xác định giá trị tiền vay. Nguyên đơn đã giao cho bị đơn 2.050.000.000
đồng bằng tiền đồng Việt Nam. Do đó, có căn cứ xác định nội dung thỏa thuận
vay tiền giữa hai bên là phù hợp với quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C xác nhận
đến nay bị đơn chưa trả cho nguyên đơn toàn bộ tiền gốc, cũng như không thanh
toán tiền lãi như đã thỏa thuận trong Thỏa thuận vay tiền. Nguyên đơn vẫn giữ
nguyên giá trị tiền vay quy đổi ra đồng Việt Nam là 2.050.000.000 đồng như đã
ghi nhận trong Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019.
Bị đơn - bà Jacqueline L đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên bị đơn không cung cấp chứng cứ hay
đưa ra ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn
cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định
pháp luật.
Xét khoản nợ trên đã quá hạn thanh toán nhưng bị đơn chưa trả nợ gốc cho
cho nguyên đơn. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 thì yêu cầu của nguyên
đơn đòi bị đơn thanh toán nợ gốc là có cơ sở phù hợp với điều luật đã viện dẫn
nên chấp nhận. Bà Jacqueline L phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Vũ Thị Kim
C số tiền gốc theo Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019 là 2.050.000.000
đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).
[6.2] Về yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn đối với Thỏa thuận vay tiền số
003 ngày 06/02/2019: tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn xác định nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu
cầu tính lãi. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn
toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử quyết
định đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[7] Như vậy, tổng tiền gốc bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 2.050.000.000
đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng). Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh
toán số nợ gốc cho nguyên đơn.
[8] Từ những phân tích nêu trên và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm có căn cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Jacqueline L phải trả cho bà
Vũ Thị Kim C số tiền nợ gốc tổng cộng là 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm
năm mươi triệu đồng).
[9] Án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên
nguyên đơn không phải chịu án phí, án phí đối với yêu cầu tính lãi đã rút tại
phiên tòa cũng được hoàn trả cùng với tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn phải
chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 385, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu tính lãi của khoản nợ theo Thỏa
thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C về việc
yêu cầu bị đơn - bà Jacqueline L thanh toán tiền gốc theo Thỏa thuận vay tiền số 003 ngày 06/02/2019. Buộc bà Jacqueline L phải hoàn trả cho bà Vũ Thị Kim C số tiền nợ gốc tổng cộng là 2.050.000.000 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Jacqueline L phải chịu án phí sơ thẩm 73.00.000 đồng (Bảy mươi ba
triệu đồng).
- Bà Vũ Thị Kim C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho bà
Vũ Thị Kim C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.520.690 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm hai mươi ngàn sáu trăm chín mươi đồng) theo Biên lai thu số: 0024109 ngày 02/8/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – bà Vũ Thị Kim C có người đại diện
theo ủy quyền là bà La Thị Thủy T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn – Bà Jacqueline L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số:
253/2019/QĐ-BPKCTT ngày 12/7/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: -TAND TC; -TAND cấp cao tại TP.HCM; -VKSND cấp cao tại TP.HCM -VKSND TP.HCM; -Cục THADS TP.HCM; -Các đương sự; -Lưu (T.20). CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Xuân Hải Võ Thị Nam | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Hải HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Hải |