- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 661/2018/DS-ST Ngày: 25/6/2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/- Ông Hoàng V Định
2/- Bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1520/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 97/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2018/QĐST-DS ngày 05/6/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: Số a1, đường N, Phường M, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông H.T.V, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số A, đường C, Phường E, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 31/08/2011, ông H.T.V có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V, S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng quốc tế S Visa với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2.15%/tháng. Lãi suất này được áp dụng từ ngày 06/7/2011 đến nay không thay đổi (đính kèm các biểu phí liên quan).
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 268.950.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông V đã thanh toán cho S số tiền 270.389.459 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S. Ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau. Số tiền thanh toán được thanh toán cụ thể như sau: Phí trễ hạn là 21.583.169 đồng, phí vượt hạn mức là 807.796 đồng, phí thường niên, phí rút tiền mặt và phí tin nhắn là 10.392.000 đồng, lãi trong hạn là 72.497.876 đồng và một phần giao dịch là 176.308.414 đồng. Sau khi trừ hết các khoản trên theo thứ tự thì số tiền gốc còn lại là 92.641.586 đồng. Ông V sử dụng thẻ từ tháng 09/2011 đến tháng 01/2014 và có thanh toán đều cho S nhưng đến tháng 09/2014 thì ngưng thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S), ngày 26/9/2014 S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S). Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 92.641.586 đồng áp dụng theo mức lãi suất quá hạn là 3.225%/tháng. Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 26/9/2014 đến 25/9/2017 là 109.150.640 đồng.
S chỉ yêu cầu ông V có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho S mà không yêu cầu vợ ông V phải có trách nhiệm cùng thanh toán. Tính đến ngày 25/9/2017, ông V còn nợ các khoản sau:
Nợ gốc
: 92.641.586 đồng
Lãi quá hạn : 109.150.640 đồng
Tổng cộng : 201.792.226 (Hai trăm lẻ một triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng)
Lãi suất quá hạn: 3.225%/tháng (2.15%x150%)
Mặc dù S đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông V, yêu cầu ông V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời S cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông V trả nợ. Tuy nhiên ông V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của S đề nghị Tòa buộc ông H.T.V phải trả ngay cho S tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/9/2017 là 201.792.226 (Hai trăm lẻ một triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn hai trăm hai mươi sáu) đồng, trong đó: Nợ gốc là: 92.641.586 đồng, nợ lãi quá hạn là: 109.150.640 đồng. Ngoài ra, ông H.T.V còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/9/2017 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông H.T.V vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện bị đơn ông H.T.V phải có trách nhiệm thanh toán số nợ do sử dụng thẻ tín dụng quốc tế S Visa theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng” được S phê duyệt ngày 31/8/2011, nên đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015.
. Theo kết quả xác minh của Công an Phường E, Quận 3 trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 08/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận 3 thể hiện: “Ông H.T.V, sinh năm 1971, có đăng ký hộ khẩu tại Số A, đường C, Phường E, Quận 3. Ông V cư trú ở nơi khác không nắm được địa chỉ, đi từ năm 2012. Ông H.T.V là con của chủ hộ nhà số Số A, đường C”. Sau khi ký kết hợp đồng, bị đơn ông H.T.V thay đổi nơi cư trú, làm việc gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho Nguyên đơn biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm nên đây được xem là trường hợp cố tình che giấu địa chỉ, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, nơi cư trú tại Quận 3 của bị đơn được xem là nơi cư trú cuối cùng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
. Về thủ tục xét xử vắng mặt:
. Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 25/6/2018, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S xác định: Trước khi khởi kiện ông H.T.V, S đã thực hiện thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua tin nhắn điện thoại xxxxxxxxxx mà ông V cung cấp cho S đồng thời gửi V bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà ông V đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; đồng thời S cũng thông báo cho ông V biết việc S sẽ khởi kiện ông (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện) thế nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó, S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện tại Đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2017, yêu cầu Tòa buộc ông V phải trả cho S số tiền tạm tính đến ngày 25/06/2018 là 228.980.296 (Hai trăm hai mươi tám triệu chín trăm tám mươi nghìn hai trăm chín mươi sáu) đồng, trong đó: Nợ gốc là: 92.641.586 đồng, nợ lãi quá hạn là: 136.338.710 đồng. Ngoài ra, ông V còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/6/2018 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án giải quyết vắng mặt nguyên đơn.
. Bị đơn ông H.T.V đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt ông H.T.V.
Về yêu cầu của Nguyên đơn:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được S phê duyệt ngày 31/8/2011 thì giữa chủ thẻ chính là ông H.T.V và bên phát hành thẻ là S có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế S Visa với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2.15%/tháng.
Theo các Bảng tóm tắt sao kê do S và Sao kê chi tiết giao dịch của ông H.T.V có số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx do S cung cấp thì ông V kích hoạt thẻ vào ngày 01/9/2011 và bắt đầu sử dụng thẻ để thực hiện việc rút tiền mặt vào ngày 02/9/2011 cho đến ngày 04/01/2014 thì không sử dụng thẻ để thực hiện việc rút tiền nữa. Thời gian chốt các giao dịch thực hiện trong tháng là vào ngày 25 hàng tháng. Thời gian từ ngày 01/9/2011 đến 25/01/2014, số tiền giao dịch mà ông V đã sử dụng thẻ để rút tiền mặt là 268.950.000 đồng (số tiền gốc). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông V đã thanh toán cho S số tiền 270.389.459 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S. Ưu tiên thanh toán phí lãi trước, giao dịch sau. Số tiền thanh toán được thanh toán cụ thể như sau: Phí trễ hạn là 21.583.169 đồng, phí vượt hạn mức là 807.796 đồng, phí thường niên, phí rút tiền mặt và phí tin nhắn là 10.392.000 đồng, lãi trong hạn là 72.497.876 đồng và một phần giao dịch là 176.308.414 đồng. Sau khi trừ hết các khoản trên theo thứ tự thì số tiền gốc còn lại là 92.641.586 đồng. Ông V sử dụng thẻ từ tháng 09/2011 đến tháng 01/2014 và có thanh toán đều cho S nhưng đến tháng 09/2014 thì ngưng thanh toán. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S) cũng như không có thiện chí trả nợ, ngày 26/9/2014 S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S). Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 92.641.586 đồng áp dụng theo mức lãi suất quá hạn là 3.225%/tháng. Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 26/9/2014 đến 25/6/2018 là 136.338.710 đồng, với lãi suất nợ quá hạn là 3.225%/tháng = 2.15% x 150%, căn cứ Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Trung tâm thẻ Ngân hàng Sài gòn Thương tín về việc thay đổi mức lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng quốc tế S mức lãi suất mới được áp dụng là 2.15%/tháng. Tổng cộng ông V còn nợ S số tiền 228.980.296 đồng.
Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;…”
Theo quy định tại Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S (Đơn vị phát hành thẻ) kèm theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của S:
+ Tại mục Phương thức thanh toán, cụ thể là:
- Tại Điều 18 quy định: “Tất cả các giao dịch và phí phát sinh phải
được Chủ thẻ thanh toán cho Đơn vị phát hành thẻ vào hoặc trước ngày
đến hạn được ghi trên thông báo …”;
- Tại Điều 19 quy định về Số tiền thanh toán như sau: “Chủ thẻ sẽ
chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến
hạn như được nêu trong thông báo hàng tháng gửi cho Chủ thẻ…”
- Tại Điều 20 quy định về Áp dụng thanh toán như sau: “Thanh
toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của
kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của
kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong
kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.”
- Tại Điều 22 quy định về Cách tính lãi như sau: “Chủ thẻ đồng ý
thanh toán lãi suất phát sinh trên tài khoản. Lãi suất được tính như sau:
a) …
b) Đối với giao dịch rút tiền mặt và giao dịch tương đương rút tiền
mặt: Lãi suất được tính từ ngày giao dịch cho đến ngày Chủ thẻ thanh
toán lại toàn bộ số tiền đã rút.
Việc thanh toán đối với các khoản dư nợ trên tài khoản được thực
hiện theo thứ tự được quy định tại Điều 20.
Đơn vị Phát hành thẻ có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời
kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho Chủ thẻ.”
- Tại Điều 23 quy định về Vi phạm như sau:
“Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của Chủ thẻ cho đến
kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng.
Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức
và Chủ thẻ phải thanh toán. Nếu Chủ thẻ có nhiều hơn một tài khoản với
Đơn vị phát hành thẻ, việc vi phạm ở một tài khoản sẽ tự động được xem
như là vi phạm ở tất cả tài khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, Đơn vị
phát hành thẻ có quyền chấm dứt tất cả các tài khoản của Chủ thẻ tại Đơn
vị phát hành thẻ…
Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn vị
phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:
Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành thu hồi toàn bộ nợ.
Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công
bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn
bộ dư nợ theo quy định của Đơn vị phát hành thẻ …”
+ Tại mục Các loại phí, cụ thể là:
- Tại Điều 24 quy định về Các loại phí như sau: “Bên cạnh lãi suất,
Chủ thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến Thẻ, bao gồm nhưng không
giới hạn các loại phí sau đây:
a) Phí hàng năm và phí phát hành thẻ phụ: Được thu mỗi năm một lần.
b) Phí rút tiền mặt: Được thu khi Chủ thẻ rút tiền mặt.
c) Phí giao dịch tương đương rút tiền mặt: Được thu khi Chủ thẻ thực
hiện giao dịch tương đương rút tiền mặt.
…
f) Phí vượt quá hạn mức: Được tính trên số dư vượt hạn mức được cấp.
g) Phí chậm thanh toán: Được thu nếu Chủ thẻ không thanh toán ít
nhất số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn…”
Mặt khác, tại Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng như sau:
“Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 19 quy định: Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi…
S đã thực hiện việc thông báo số tiền nợ sao kê thẻ thông qua tin nhắn điện thoại xxxxxxxxxx mà ông V cung cấp cho S đồng thời gửi V bản qua đường bưu điện theo địa chỉ mà ông V đã cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trước khi S thực hiện việc khởi kiện ông V tại Tòa cũng như thông báo cho ông V biết việc S khởi kiện ông (có đính kèm các tài liệu chứng cứ cho việc khởi kiện). Thế nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ.
Từ những căn cứ trên, xét yêu cầu của S yêu cầu Tòa buộc ông H.T.V phải trả cho S số tiền là 228.980.296 (Hai trăm hai mươi tám triệu chín trăm tám mươi ngàn hai trăm chín mươi sáu) đồng làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 92.641.586 đồng, tiền lãi là 136.338.710 đồng, là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân Quận 3 trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn lại vụ án;
- Áp dụng Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo);
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:
Buộc ông H.T.V phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 228.980.296 (Hai trăm hai mươi tám triệu chín trăm tám mươi ngàn hai trăm chín mươi sáu) đồng làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật, trong đó số tiền gốc là 92.641.586 đồng, tiền lãi là 136.338.710 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông H.T.V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh được tính theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng được S phê duyệt ngày 31/8/2011 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Việc thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H.T.V phải chịu 11.449.015 (Mười một triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn không trăm mười lăm) đồng.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 5.044.806 (Năm triệu không trăm bốn mươi bốn ngàn tám trăm lẻ sáu) đồng là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0019801 ngày 28/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Quận 3; - THADS Quận 3; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Phượng |