vanban.org

Bản án 660/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 660/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Khanh.

Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc

Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1368/2023/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1994 (vắng mặt có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A ấp BL, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Nguyễn Sơn L1, sinh năm: 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A ấp BL, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn, các bản tự khai, các biên bản tại Tòa án nguyên đơn là

bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Sơn L1 kết hôn với nhau từ năm 2014

tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã B1, tỉnh V giấy chứng nhận kết hôn số 15/2014, quyển số I/2013 ngày 28/02/2014. Qúa trình chung sống thời gian đầu vợ chồng bà hạnh phúc, khoảng giữa năm 2014 ông bà lên Sài Gòn làm ăn sinh sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn hay cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông L1 coi trọng bạn bè hơn gia đình vợ con, không cùng với bà lo cho cuộc sống gia đình con cái học hành. Đã từ lâu, một mình bà phải gồng gánh lo sinh hoạt cho gia đình và đóng học phí cho các con. Vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bà rất ngột ngạt. Bà L, ông L1 và gia đình hai bên đã cùng nhau hòa giải nhiều lần đều không thành, tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Cuộc sống chung không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được, bà và ông L1 đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Do đó, bà L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Sơn L1.

- Về con chung: Ông L1 và bà L có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh

ngày 07/5/2015 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 20/4/2021. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Sơn L1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại bà bán nước giải khát thu nhập ổn định khoảng 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/ 1 tháng, thu nhập đảm bảo cuộc sống của ba mẹ con vì từ trước đến nay một mình bà phải lo cho các con nên sau khi ly hôn bà cam kết vẫn đảm bảo cuộc sống ổn định cho các con.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Sơn L1 đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn

triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông L1 vắng mặt tại các buổi hòa giải, phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do. Ông L1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Nguyễn Sơn L1 đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn

triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các

quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 72 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp

nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng cho ông Nguyễn Sơn L1 nhưng ông L1 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do nên giữa các đương sự không thống nhất được bất kỳ nội dung nào của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án

tranh chấp ly hôn, nuôi con sau ly hôn và bị đơn cư trú tại số A, ấp BL, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử

vắng mặt; bị đơn là ông Nguyễn Sơn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Sơn L1 kết

hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã B1, tỉnh V căn cứ theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 15/2014, quyển số I/2013 ngày 28/02/2014 có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Sơn L1 và bà Nguyễn Thị L là hợp pháp.

. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét

xử nhận thấy: Theo lời khai của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân rất ngột ngạt ảnh hưởng đến môi trường sống của con, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông L1 bà L và gia đình đã cùng nhau hòa giải nhiều lần đều không thành. Ông L1 bà L đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay.

. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải

thích, động viên bà L đoàn tụ gia đình, vợ chồng cùng cho nhau cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con chung. Nhưng bà L cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.

. Về phần ông L1, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn

tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng ông L1 không có bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, điều này cho thấy ông L1 đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải tự chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ trên yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết vụ án.

. Trong suốt thời gian 02 vợ chồng sống ly thân cũng như thời gian

bà L nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông L1 cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông L1 cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.

. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình

thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, giữa ông L1 và bà L đã trải qua thời gian ly thân dài, không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình. Như vậy, ông L1 và bà L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Xét mâu thuẫn chung giữa ông L1 và bà L đã trầm trọng, không thể

hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.

. Về con chung: Theo lời khai của bà L và căn cứ bản sao giấy khai

sinh số 96/2015, quyển số II/2014 ngày 18/6/2015 và bản sao giấy khai sinh số 120 ngày 28/5/2021 của Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã B1, tỉnh V có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Gia B sinh ngày 07/5/2015 và trẻ Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 20/4/2021 có cha là ông Nguyễn Sơn L1 và mẹ là bà Nguyễn Thị L. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Sơn L1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, thực tế 02 trẻ Gia B và Gia H hiện tại đang sống ổn định cùng bà L. Theo bà L trình bày bà L bán nước giải khát thu nhập ổn định khoảng 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/ 1 tháng, thu nhập đảm bảo cuộc sống của ba mẹ con. Căn cứ hợp đồng thuê nhà do bà L cung cấp có cơ sở xác định bà có chỗ ở ổn định. Xét thấy, yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của trẻ Gia B, ông L1 cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con, để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi về mọi mặt của trẻ Gia B, Gia H nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

. Về tài sản chung: Bà L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó

Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Bà L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội

đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều

83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008,

được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L

đối với bị đơn ông Nguyễn Sơn L1:

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn

Sơn L1.

3. Về con chung: G

iao 02 con chung Nguyễn Gia B sinh ngày 07/5/2015 và Nguyễn Ngọc

Gia H, sinh ngày 20/4/2021 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Ghi nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị L không yêu cầu ông Nguyễn Sơn L1 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được

sống với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có

quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị L xác nhận không yêu cầu giải quyết,

do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị L xác nhận không yêu cầu giải quyết, do

đó Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0008071 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

9.Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ