- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Xuân S, Lý A phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 31,552 (Ba mươi mốt phẩy năm trăm năm mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định và 02 (Hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (Một) sợi dây nilon màu đỏ cùng vỏ bì niêm …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2026/HSST Ngày 15 -01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÀO CAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Giàng Thị Lan
2. Ông Chảo Láo Lủ
Thư ký phiên toà: Bà Cao Hải Lanh - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 15/01/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Vàng Xuân S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/9/1950 tại xã D, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: thôn D, xã D, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 4/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Vàng Thông Sèo (đã chết) và bà Tẩn Tả Mẩy (đã chết). Bị cáo có vợ là Tẩn Tả Mẩy sinh năm 1954, bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1971, con nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Xấu tại bản án hình sự số 15 ngày 19/7/2003 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/7/2025, tạm giam ngày 01/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Lào Cai (có mặt tại phiên tòa).
2. Lý A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/7/1992 tại xã B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: thôn P, xã B, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lý A Ngan và bà Lý Thị Liềng; Bị cáo có vợ là Vàng Thị Xuân (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2015 ; Tiền sự: có 02 tiền sự cụ thể: Tại quyết định số 88 ngày 04/8/2021 của TAND thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý A với thời hạn 12 tháng tính từ ngày 30/5/2021. Đến ngày 30/5/2022 Phóng chấp hành xong.
Tại quyết định số 05 ngày 10/01/2024 của TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý A với thời hạn 15 tháng tính từ ngày 27/11/2023. Đến ngày 22/01/2025 Phóng chấp hành xong; Tiền án: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2025, tạm giam từ ngày 31/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Lào Cai (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Vàng Xuân S là Bà Nguyễn Thị Hương Thủy
- sinh năm 1983 Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Q – sinh năm 1975
Địa chỉ: tổ 10, xã B, tỉnh Lào Cai.(vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/7/2025, tổ công tác Công an xã B tiến hành kiểm tra tại nhà của Lý A, tổ công tác đã yêu cầu Lý A có ma túy thì tự giác lấy ra giao nộp, Lý A đã tự lấy trong túi quần bên trái đang treo trong phòng ngủ ra 01 (Một) gói nilon màu đen buộc cổ bằng nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, tiếp tục lấy trong tủ quần áo 01 (Một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn màu trắng đã qua sử dụng bên trong có 26 (Hai mươi sáu) gói giấy trong mỗi gói đều chứa chất bột khô màu trắng vón cục. Lý A khai nhận toàn bộ số chất bột khô màu trắng trong gói nilon và các gói giấy trên đều là Heroine của Phóng mua của Vàng Xuân S vào sáng ngày 21/7/2025 với số tiền là 02 (Hai triệu) đồng, mục đích Lý A mua Heroine về để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý A và thu giữ vật chứng, niêm phong theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Phóng 01 (Một) điện thoại di động đã qua sử dụng.
Hồi 18 giờ ngày 22/7/2025 căn cứ vào các tài liệu thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vàng Xuân S tại thôn D, xã D, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét Vàng Xuân S tự giác lấy từ dưới lớp chăn trải làm đệm phía cuối giường ra 01 (Một) gói nilon màu xanh được buộc bằng sợi dây nilon màu đỏ, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, Vàng Xuân S khai nhận chất bột khô màu trắng là Heroine của Vàng Xuân S mua về mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ vật chứng, niêm phong theo quy định, đồng thời bắt giữ khẩn cấp đối với Vàng Xuân S.
Quá trình điều tra Vàng Xuân S, Lý A khai nhận như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, nên khoảng 11 giờ ngày 21/7/2025, Lý A một mình đi đến nhà Vàng Xuân S với mục đích mua ma túy về để bán và sử dụng cho bản thân. Đến nhà Vàng Xuân S, Lý A đặt vấn đề mua của Vàng Xuân S 2.000.000 (Hai triệu) đồng ma túy, Vàng Xuân S đồng ý và bán cho Lý A 01 (Một) gói nilon chứa Heroine với số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng, Lý A nhận ma túy và trả tiền cho Vàng Xuân S rồi đi về luôn. Sau khi mua được ma túy, Phóng mang gói ma túy vừa mua được về nhà chia thành 27 (Hai mươi bảy) gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy rồi cho vào trong một lọ nhựa và cất giấu trong tủ, số ma túy còn lại trong túi nilon Phóng lấy ra sử dụng một ít, sau đó gói lại như ban đầu và cất giấu trong túi quần treo trong buồng ngủ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi Lý A đang ở nhà thì có Phạm Xuân Trường đến nhà hỏi mua ma túy, Lý A đồng ý bán nên đã vào nhà lấy một gói ma túy ở trong lọ nhựa đem ra bán cho Phạm Xuân Trường với giá tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Phạm Xuân Trường cầm gói ma túy đi về. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì tổ công tác phòng chống tội phạm Công an xã B đến kiểm tra Lý A, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Bị cáo Lý A còn tự khai nhận, ngoài lần mua ma túy của Vàng Xuân S vào ngày 21/7/2025 như nêu trên, vào khoảng giữa tháng 7/2025 Lý A còn mua của Vàng Xuân S 01 (một) gói Heroine với số tiền là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Lý A đem về nhà sử dụng một ít, số ma túy còn lại Lý A cũng trong khoảng thời gian giữa tháng 7/2025 tại nơi ở của mình, Lý A đã hai lần bán ma túy cho Phạm Xuân Trường mỗi lần 01 (một) gói Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Vàng Xuân S cũng khai nhận hành vi phạm tội về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền bán ma túy cho Lý A phù hợp với vời khai của Lý A Phóng. Số ma túy có để sử dụng và bán, Vàng Xuân S khai đã 02 lần mua ma túy của 01 người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết mang đến nhà bán cho Vàng Xuân S vào khoảng thời gian giữa tháng 7/2025 và ngày 20/7/2025.
Quá trình điều tra Vàng Xuân S, Lý A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra các quyết định:
+ Quyết định trưng cầu giám định số: 3128/QĐ – CSMT ngày 22/7/2025 đối với vật chứng nghi ma túy thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang Lý A. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ngày 22/7/2025 đã xác định:
+ 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn, bên trong lọ nhựa có 26 (Hai mươi sáu) gói, mỗi gói đều được gói bên ngoài bằng mảnh giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột khô, màu trắng,vón cục chứa chất bột khô, màu trắng,vón cục được ký hiệu mẫu M1. Mẫu M1 có khối lượng 3,031 (Ba phẩy không trăm ba mốt) gam, trích 0,205 (Không phẩy hai trăm linh năm) gam tiến hành giám định, hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu 2,826 (Hai phẩy tám trăm hai mươi sáu) gam.
+ 01 (Một) gói, được gói bên ngoài bằng nilon màu đen và được buộc túm bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong gói chứa chất bột khô, màu trắng,vón cục được ký hiệu mẫu M2. Mẫu M2 có khối lượng 3,377 (Ba phẩy ba trăm bảy mươi bảy) gam, trích 0,183 (Không phẩy một trăm tám mươi ba) gam tiến hành giám định, hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu 3,194 (Ba phẩy một trăm chín mươi bốn) gam.
Tại bản kết luận giám định ma túy số 274/KL-KTHS ngày 24/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: M1: 3,031 (Ba phẩy không trăm ba mốt) gam; M2: 3,377 (Ba phẩy ba trăm bảy mươi bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lý A gửi giám định đều loại chất ma túy, loại Heroine (Heroin).
+ Quyết định trưng cầu giám định số: 3154/QĐ – CSMT ngày 22/7/2025 đối với vật chứng nghi ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Vàng Xuân S. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ngày 23/7/2025 đã xác định: 01 (một) bì thư niêm phong bên trong có 01 (một) gói được gói bên ngoài bằng 02 (hai) mảnh nilon màu xanh và được buộc túm lại bằng sợi dây nilon màu đỏ, bên trong gói chứa chất bột khô, màu trắng, dạng cục có khối lượng 32,157 (Ba mươi hai phẩy một trăm năm mươi bảy) gam, trích 0,0605 (không phẩy sáu trăm linh năm) gam tiến hành giám định, hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu 31,552 (Ba mươi mốt phẩy năm trăm năm mươi hai) gam.
Tại bản kết luận giám định ma túy số 281/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Mẫu gửi giám định 32,157 (Ba mươi hai phẩy một trăm năm mươi bảy) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin).
Cáo trạng số: 50/CT- VKS- P1 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Vàng Xuân S về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Lý A về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Xuân S và Lý A phạm tội ‘ Mua bán trái phép chất ma Túy’. Bị cáo Vàng Xuân S theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Bị cáo Lý A theo điểm b,i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025. Vì vậy khi phân tích đánh giá, tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm o,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vàng Xuân S mức án từ 15 (mười lăm) năm đến 15 (mười lăm) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm b,i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Lý A mức án từ 07 (Bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 đối với bị cáo Vàng Xuân S và Lý A.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) bì niêm phòng của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 31,552 (Ba mươi mốt phẩy năm trăm năm mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Vàng Xuân S và 02 (hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (Một) sợi dây nilon màu đỏ cùng vỏ bì niêm phong ban đầu.
- 01 (Một) bì niêm phòng của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 6,02 (Sáu phẩy không hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lý A cùng 26 (hai mươi sáu) mảnh giấy; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn; 01 (Một) mảnh nilon màu đen; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh và vỏ bì niêm phong ban đầu.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước gồm: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nubia V70 màu xám rêu, số seri: LZV70DVNCD4001208, IMEI 1: 861054073080645; IMEI 2: 861054073080652, không kiểm tra hoạt động bên trong máy.
Truy thu của bị cáo Vàng Xuân S số tiền đã bán ma túy cho Lý A là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu của bị cáo Lý A số tiền đã bán ma túy cho số tiền đã bán ma túy cho Phạm Xuân Trường 3 lần được số tiền là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lý A để đảm bảo công tác thi hành án.
Bị cáo Vàng Xuân S thuộc hộ nghèo có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Xuân S
Tuyên án phí cho bị cáo Lý A và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa trình bày lời bào chữa đối với bị cáo Vàng Xuân S. Đề nghị Hội đồng xét xét xử căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo là người dân tộc thiểu số hạn chế về nhận thức, người cao tuổi đã trên 70 tuổi sức khỏe yếu. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vàng Xuân S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo với mức án 15 (Mười lăm) năm tù. Bị cáo Vàng Xuân S không có tài sản gì riêng thuộc hộ nghèo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vàng Xuân S
Bị cáo Vàng Xuân S thuộc hộ nghèo có giấy chứng nhận số 8/GCN- HN-HCN của UBND xã D, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Xuân S.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lào Cai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đối với bị cáo Lý A: Khoảng 11 giờ ngày 21/7/2025, Lý A mua của Vàng Xuân S 2.000.000 (Hai triệu) đồng ma túy, Vàng Xuân S bán cho Lý A 01 (Một) gói nilon chứa Heroine với số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng, sau khi mua được ma túy Lý A mang gói ma túy vừa mua được về nhà chia thành 27 (Hai mươi bảy) gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy rồi cho vào trong một lọ nhựa và cất giấu trong tủ, số ma túy còn lại trong túi nilon Lý A lấy ra sử dụng một ít, sau đó gói lại như ban đầu và cất giấu trong túi quần treo trong buồng ngủ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi Lý A đang ở nhà thì có Phạm Xuân Trường đến nhà hỏi mua ma túy, Lý A đã vào nhà lấy 01 (một) gói ma túy ở trong lọ nhựa đem ra bán cho Phạm Xuân Trường với giá tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Lý A còn tự khai nhận, ngoài lần mua ma túy của Vàng Xuân S vào ngày 21/7/2025 vào khoảng giữa tháng 7/2025 Lý A còn mua của Vàng Xuân S 01 (một) gói Heroine với số tiền là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Lý A đem về nhà sử dụng một ít, số ma túy còn lại Lý A cũng trong khoảng thời gian giữa tháng 7/2025 Lý A đã hai lần bán ma túy cho Phạm Xuân Trường mỗi lần 01 (một) gói Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Khối lượng ma túy thu giữ của Lý A là 6,408 (Sáu phẩy bốn trăm linh tám) gam chất ma túy Heroine. Hành vi của bị cáo Lý A đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025.
Hội đồng xét xử nhận thấy đối với Vàng Xuân S: Hồi 18 giờ ngày 22/7/2025 căn cứ vào các tài liệu thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vàng Xuân S. Quá trình khám xét Vàng Xuân S tự giác giao nộp 01 (Một) gói nilon màu xanh được buộc bằng sợi dây nilon màu đỏ, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục, Vàng Xuân S khai nhận chất bột khô màu trắng là Heroine của Vàng Xuân S mua về mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo Vàng Xuân S cũng thừa nhận lời khai của Lý A về việc đã mua ma túy của Vàng Xuân S trong tháng 7/2025 là đúng. Như vậy trong khoảng thời gian tháng 7/2025 bị cáo Vàng Xuân S đã bán hai lần ma túy cho Lý A lần 1 là 500.000 đồng, lần 2 là 2.000.000 đồng, vì vậy Vàng Xuân S phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo và khối lượng ma túy thu giữ được của Lý A. Tổng khối lượng bị cáo Vàng Xuân S phải chịu trách nhiệm hình sự là 38,565 gam. Hành vi của bị cáo Vàng Xuân S đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025.
Cáo trạng số 50/CT –VKS- P1 truy tố bị cáo Lý A theo điểm b,i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 về phạm tội ‘Phạm tội 02 lần trở lên’ và ‘.. khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam…’. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai truy tố bị cáo Vàng Lý A ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác. Truy tố bị cáo Vàng Xuân S ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 là hoàn toàn chính xác, đúng pháp luật.
Đây là vụ án không có tính chất đồng phạm, các bị cáo Vàng Xuân S và Lý A thực hiện hành vi phạm tội độc lập.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tại phiên tòa hôm nay người bảo chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án 15 (Mười lăm) năm tù. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì đề nghị của người bào chữa là chưa phù hợp. Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lý A không bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Bị cáo Vàng Xuân S bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Phạm tội 02 lần trở lên ” đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Bị cáo Vàng Xuân S được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “ Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên ” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lý A được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “ Người phạm tội tự thú ” và “ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại các điểm r, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Vàng Xuân S thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng, bị cáo Lý A không có tài sản gì, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025 là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Sau giám định số vật chứng còn lại 01 (Một) bì niêm phòng của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 31,552 (Ba mươi mốt phẩy năm trăm năm mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Vàng Xuân S và 02 (hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (Một) sợi dây nilon màu đỏ cùng vỏ bì niêm phong ban đầu. 01 (Một) bì niêm phòng của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 6,02 (Sáu phẩy không hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Lý A cùng 26 (hai mươi sáu) mảnh giấy; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn; 01 (Một) mảnh nilon màu đen; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh và vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nubia V70 màu xám rêu, số seri: LZV70DVNCD4001208, IMEI 1: 861054073080645; IMEI 2: 861054073080652, không kiểm tra hoạt động bên trong máy thu giữ của Lý A, bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy cho Phạm Xuân Trường là công cụ phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền bị cáo Vàng Xuân S đã bán hai lần ma túy cho Lý A được 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết, đây là tiền do phạm tội mà có cần truy thu của bị cáo Vàng Xuân S để sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền bị cáo Lý A đã bán ma túy cho Phạm Xuân Trường 03 lần được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết, đây là tiền do phạm tội mà có cần truy thu của bị cáo Lý A để sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lý A bị cáo khai là tiền của bị cáo do lao động mà có, vì vậy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý A: Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 22/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đối với Lý A thể hiện Lý A dương tính với ma túy nhóm Opiat và bản thân Lý A là người bị đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong vào ngày 22/01/2025. Tuy nhiên khi về địa phương Phóng không về nhà để báo cáo chính quyền địa phương và nộp giấy tờ theo quy định mà đi làm thuê luôn, nên chính quyền địa phương và cơ quan chức năng không lập hồ sơ được để quản lý Lý A sau cai nghiện theo quy định. Vì vậy lần sử dụng ma túy này của Lý A không đủ căn cứ để xử lý về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Đối với người phụ nữ đã 02 lần bán ma túy cho bị cáo Vàng Xuân S. Do Vàng Xuân S không biết rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể của người phụ nữ đó ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Phạm Xuân Trường là người 03 lần mua ma túy của Lý A mỗi lần 01 gói giá 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) và Trường đã sử dụng hết nên không thu giữ được số ma túy đã mua. Bản thân Trường hiện đang bị xử lý ở một vụ án khác về tội sử dụng trái phép chất ma túy do Cơ quan Công an tỉnh Lào Cai thụ lý giải quyết, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
.Về án phí: Bị cáo Vàng Xuân S thuộc hộ nghèo có giấy chứng nhận số 8/GCN- HN- HCN ngày 10/7/2025 của UBND xã D, tỉnh Lào Cai và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì vậy bị cáo Vàng Xuân S được miễn án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Lý A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm o, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Xuân S mức án 15 ( Mười lăm) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/7/2025.
Căn cứ điểm b,i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung một số điều năm 2025; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý A mức án từ 07 (Bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/7/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 31,552 (Ba mươi mốt phẩy năm trăm năm mươi hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định và 02 (Hai) mảnh nilon màu xanh; 01 (Một) sợi dây nilon màu đỏ cùng vỏ bì niêm phong ban đầu được cho vào một bì thư in sẵn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai dán kín lại. Trên một mặt tại mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Tống Quan Du, Bùi Mạnh Hải, Vàng Xuân S cùng 02 (Hai) hình dấu thu nhỏ, màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét nơi ở của Vàng Xuân S tại thôn D, xã D, tỉnh Lào Cai ngày 22/7/2025”.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai bên trong có 6,02 (Sáu phẩy không hai) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 26 (Hai mươi sáu) mảnh giấy; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng có nắp vặn; 01 (Một) mảnh nilon màu đen; 01 (Một) mảnh nilon màu xanh cùng vỏ bì niêm phong ban đầu được cho vào một bì thư in sẵn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai dán kín lại. Trên một mặt tại mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Tống Quan Du, Trần Duy Khoái, 01 dấu điểm chỉ có ghi “ Điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý A” cùng 02 (Hai) hình dấu thu nhỏ, màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A tại thôn Làng Pắn, xã B, tỉnh Lào Cai ngày 21/7/2025”.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nubia V70 màu xám rêu, số seri: LZV70DVNCD4001208, IMEI 1: 861054073080645; IMEI 2: 861054073080652, thu giữ của Lý A, không kiểm tra hoạt động bên trong máy.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Lào Cai và Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Lào Cai).
- Truy thu của bị cáo Vàng Xuân S số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Truy thu của bị cáo Lý A số tiền là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lý A để đảm bảo công tác thi hành án.
( Theo giấy nộp tiền ngày 07/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Kho bạc nhà nước khu vực IX – Phòng giao dịch số 5)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Lý A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Bị cáo Vàng Xuân S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Vàng Xuân S, Lý A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC; - VKSND tỉnh LC; - VKS khu vực 7- Lào Cai ; - CQCSĐTCATỉnh LC; - Bị cáo (2); - Người bào chữa (1) - Phòng PV 06 – CAT; - Trại tạm giam số 1 – CAT; - THADS tỉnh Lào Cai; - LưuHS, TQĐ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thanh Hương |