vanban.org

Bản án 66/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt: bị cáo Lê Đức C 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/3/2026). Xử phạt: Nguyễn Văn Thịnh C3 40 ( Bốn mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức C - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 3 – NGHỆ AN
Bản án số: 66 /2026/HS-ST
Ngày: 28/ 04/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Tư và Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 3 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ an tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 28/ 4/2026, tại phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3

- Nghệ an; mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47 /2026/TLST - HS ngày 25 /03/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73 /2026/QĐXXST – HS ngày 16 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Đức C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.Sinh ngày: 11/7/1981, tại xã Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Chức vụ trước khi phạm tội: không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Thẻ CCCD; 040081018863. Họ và tên cha: Lê Đức C1 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; Anh chị em ruột có 05 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1988 (đã ly hôn) Con: có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Năm 2000 bị Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt 100.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công công.

Năm 2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án số 240/HSST ngày 26/4/2001. Chấp hành xong ngày 26/4/2004.

Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại bản án số 255/ST ngày 04/12/2007. Chấp hành xong ngày 03/10/2010.

Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án 13/2019/HSST. Chấp hành xong ngày 03/10/2020.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2026 đến ngày 23/4/2026. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.Sinh ngày: 04/8/1991, tại xã Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Chức vụ trước khi phạm tội: không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Thẻ CCCD: 040091040037.Họ và tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1970; Họ và tên mẹ: Thái Thị T1, sinh năm 1972; Anh chị em ruột có 04 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1994 Con: có có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2025 đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/10/2025, Nguyễn Văn T nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng nên gọi điện thoại cho Lê Đức C hỏi có ma túy hồng phiến không bán cho mấy trăm nghìn. C hiểu ý và trả lời “không có, mi có lấy thì anh lấy hộ cho, mấy trăm”. T nói “năm trăm nghìn đồng”. Sau đó, C gọi điện thoại cho một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, hỏi “có đỏ không để cho tôi năm trăm” nghĩa là C hỏi mua 500.000 đồng ma túy hồng phiến thì người này đồng ý và hẹn C đến chỗ nghĩa trang, gần quán thịt mèo thuộc xã Đ, tỉnh Nghệ An để giao ma túy. Sau đó, Lê Đức C đi xe đạp điện đến điểm hẹn, gọi điện cho người đàn ông đó hỏi “lấy đồ ở mô đây”, thì người đó chỉ cho C đi đến mô đất, gần nghĩa trang có gói thuốc lá Thăng Long màu vàng, hàng để trong đó, lấy hàng và bỏ tiền lại đó”. C đi theo chỉ dẫn đó thì thấy có một gói thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một gói ma túy, C cất gói ma túy đó vào trong túi áo đang mặc trên người và lấy 500.000 đồng bỏ ở vị trí vừa lấy gói ma túy và đi về nhà. Khi vừa về đến nhà thì Nguyễn Văn T gọi lại hỏi đã có ma túy chưa thì C hẹn T đến nhà C để lấy. Lúc này, C lấy gói ma túy vừa mua được đưa ra bỏ dưới bàn ghế đá của nhà mình. Khoảng 03 phút sau, T đi đến thì thấy C đã chở ở đó, T lấy 500.000 đồng đưa cho C thì C nói “Mi đi xuống một đoạn tí quay lại mà lấy, hàng để trong gói thuốc lá Thăng Long màu vàng dưới bàn đó”, sau đó, C đi vào nhà. Còn T đi tiếp một đoạn nữa quay lại để lấy ma túy. Sau khi lấy được ma túy, Nguyễn Văn T đi đến đoạn đường 538C thuộc địa phận xóm T, xã Q, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Q phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 Bộ tư lệnh Cảnh sát Biển phát hiện bắt quat tang, thu giữ ở lỗ tai trái của Nguyễn Văn T 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa 05 viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau nghi là ma túy; thu giữ ở trong túi quần bên trái 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh đã qua sử dụng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius màu đen đỏ, BKS 37F1- 695.37 đã qua sử dụng rồi dẫn giải Nguyễn Văn T về trụ sở công an xã Q làm việc.

Đến 09 giờ 20 phút ngày 15/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp nhưng qua xác minh Lê Đức C không có mặt tại địa phương. Cùng ngày, công an tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở bà Nguyễn Thị B (mẹ đẻ của Lê Đức C) tại thôn H, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét công an không thu giữ được gì.

Ngày 07/3/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Đức C.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 01 giờ 10 phút ngày 15/10/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Kết luận kết luận giám định số 508/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 19/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng 0,5gam.

Tại bản cáo trạng số 18 /CT-VKS-KV3 ngày 23/03/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Đức C và Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Xử phạt: bị cáo Lê Đức C mức án từ 42 đến 48 tháng tù về Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch Thu Tiêu hủy khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T khi bắt quả tang: 0,5 gam ma túy Methamphetamine, lấy 0,2 gam gửi giám định, còn lại 0,3 gam methamthepamine, 01 mảnh bao nilon màu đen cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu được bỏ vào một bì thư niêm phong đúng quy định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số Imei: 353891106044006, số IMEI2: 353891106042141 máy đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, số máy MG9J3LL/A, số Seri: F2LF5EXF0D46, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đức C

Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo Lê Đức C và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 14/10/2025, tại khu vực đưởng tỉnh lộ 538C, thuộc xóm T, xã Q, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng là 0,5 gam ma túy Methamphetamine. Số ma túy trên là của Lê Đức C mua hộ cho T để sử dụng, do đó C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Tàng trữ trái phép 0,5 gam ma túy Methamphetamine. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về tính chất vụ án; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Lê Đức C có bố được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam(không phẩy ba gam) ma túy Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, 01 mảnh bao nilon màu đen cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu được bỏ vào một bì thư niêm phong đúng quy định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số Imei: 353891106044006, số IMEI2: 353891106042141 máy đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, số máy MG9J3LL/A, số Seri: F2LF5EXF0D46, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đức C

Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Nghệ An.

. Trong vụ án có đối tượng là người đàn ông bán ma túy cho Lê Văn C2 (theo lời khai của bị cáo), do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Lê Văn C2 và Nguyễn Văn T mổi bị phải chịu cáo 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2025).

-Xử phạt: bị cáo Lê Đức C 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/3/2026).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51. Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2025).

- Xử phạt: Nguyễn Văn Thịnh C3 40 ( Bốn mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam(không phẩy ba gam) ma túy Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định, 01 mảnh bao nilon màu đen cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu được bỏ vào một bì thư niêm phong đúng quy định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu xanh, số Imei: 353891106044006, số IMEI2: 353891106042141 máy đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.

-Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, số máy MG9J3LL/A, số Seri: F2LF5EXF0D46, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đức C

Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Nghệ An được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa hai cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Tỉnh Nghệ an ngày 07/4/2026.

3. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc các bị Cáo Lê Đức C và Nguyễn Văn T mổi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Đức C và Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ