- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2026/HS-ST Ngày: 27-8-2026. NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền;
2. Bà Bạc Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày: 25/10/2003, tại: Xã T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản B, xã T, tỉnh Điện Biên; căn cước số: 011203010093, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/05/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Lò Văn C, sinh năm 1974 và con bà Quàng Thị C1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị tạm giữ ngày 08/5/2026, tạm giam từ ngày 17/5/2026 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/5/2026, bị cáo Lò Văn T một mình tự ý lấy xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 27AA-633.78 của bố đẻ là ông Lò Văn C, điều khiển đi từ nhà bị cáo tại bản B, xã T, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản C, xã T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma tuý sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang đi xe mô tô đến đoạn đường dốc thuộc bản C, xã T thì gặp người đàn ông khoảng 20 tuổi đang đi bộ, bị cáo dừng xe lại nói chuyện thì nhận ra người đàn ông này tên T1 do trước đó bị cáo đã gặp người này khi đi chơi B-a tại trung tâm T2. Qua trao đổi bị cáo mua được của T1 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Mua được Heroine bị cáo cất vào túi quần đùi màu đen bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày 07/5/2026 khi bị cáo Lò Văn T đang điều khiển xe đi về tại khu vực bản C, xã T thì gặp tổ công tác Công an xã T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ đang làm nhiệm vụ, do có Heroine nên bị cáo giật mình phanh gấp làm người và xe ngã xuống đường, ống xả xe mô tô đè lên phần cẳng chân phải làm bị cáo bị bỏng. Tổ công tác dựng xe mô tô, đỡ bị cáo đứng dậy, sau đó yêu cầu kiểm tra và phát hiện bắt quả tang bị cáo Lò Văn T cất giấu trong túi quần đùi màu đen bên trái 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Vật chứng thu giữ gồm: 0,13 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ, sau khi giám định hoàn lại 0,09 gam, 01 mảnh nilon màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số: 485/KL-KTHS ngày 14/5/2026 của Phòng K1, Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 0,13 gam là chất ma tuý: Heroin (Heroine)”.
Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKS-KV3 ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên đã truy tố: Bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù và không phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bằng phong bì công văn của Công an xã T, các mép được dán kín có chứa 01 túi nilon màu trắng dung để gói vật chứng ban đầu và 01 vỏ phong bì cũ niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn T; 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,09 gam Heroine. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Hồi 23 giờ 20 phút cùng ngày 07/5/2026, tại khu vực bản C, xã T, tỉnh Điện Biên, Tổ công tác Công an xã T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, bắt người phạm tội quả tang thu giữ của bị cáo Lò Văn T 01 gói Heroine có khối lượng 0,13 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, bị cáo hoàn toàn hiểu biết, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xét thấy, bản thân bị cáo nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Thái tên T1, bị khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 07/5/2026, do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không có cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ, xác minh làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 27AA-633.78, quá trình điều tra đã làm rõ, chủ sở hữu xe là ông Lò Văn C, ông C không biết việc bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 09/6/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu ông Lò Văn C và ông C đã nhận lại tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả test chất ma túy vào ngày 08/5/2026, bị cáo dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên, qua điều tra không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, nên ngày 05/02/2026, nên ngày 05/02/2026 Công an xã T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo bằng hình thức cảnh cáo là có căn cứ, nên Hội dồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bằng phong bì công văn của Công an xã T, các mép được dán kín có chứa 01 túi nilon màu trắng dung để gói vật chứng ban đầu và 01 vỏ phong bì cũ niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn T; 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,09 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 08/5/2026.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng bằng phong bì công văn của Công an xã T, các mép được dán kín có chứa 01 túi nilon màu trắng dung để gói vật chứng ban đầu và 01 vỏ phong bì cũ niêm phong vật chứng thu giữ của Lò Văn T; 01 phong bì niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép được dán kín chứa mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,09 gam Heroine theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/5/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đ và K vật chứng Phân trại tạm giam Tuần G, Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 3 - Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ĐB; - Phòng HSNV, Lý lịch tư pháp Công an tỉnh ĐB; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh ĐB; - Phân trại tạm giam Tuần Giáo, tỉnh ĐB; - THADS tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hương |