vanban.org

Bản án 66/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2025. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Quốc Phong - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———————
Bản án số: 66/2026/HS-ST
Ngày 04-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Vân và ông Từ Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Hồ Quốc P, sinh năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số B T, Lương Nhữ H, tổ dân phố D, khu phố D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Hồ Kim T, sinh năm 1962 và bà Trương Cẩm V, sinh năm 1962 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2025. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1997; địa chỉ: số A quốc lộ A, khu phố B, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Quốc P và Trần Nguyễn Hoàng B là bạn quen biết ngoài xã hội. Khoảng 12 giờ ngày 23/11/2022, khi đang ở tại nhà số B trệt L, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Quốc P nhận được tin nhắn của Trần Nguyễn Hoàng B qua ứng dụng Messenger hỏi mua 02 bịch ma túy loại Chali và nửa hộp khay năm ma túy. P sử dụng điện thoại di động liên hệ với một người tên L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy với giá 8.500.000 đồng. Sau đó, P báo cho B giá bán là 8.800.000 đồng. B gửi vị trí tại chung cư O, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy. P sao chép vị trí này kèm theo số điện thoại của B gửi cho L để L giao ma túy cho B thông qua người giao hàng. Khoảng 40 phút sau, do chưa nhận được ma túy, B liên lạc hỏi P thì P gọi điện cho L và được L cho biết shipper đang trên đường giao hàng, đồng thời cung cấp số điện thoại của shipper để B trực tiếp liên hệ. Đến 23 giờ 31 phút ngày 24/11/2022, Trần Nguyễn Hoàng B chuyển số tiền 8.888.888 đồng từ tài khoản ngân hàng M đứng tên Trần Nguyễn Hoàng B sang tài khoản ngân hàng A đứng tên Hồ Quốc P để thanh toán tiền mua ma túy. Ngày 25/11/2022, P rút tiền mặt và đưa cho L số tiền 8.500.000 đồng, số tiền còn lại 388.888 đồng P hưởng lợi từ việc bán ma túy. Toàn bộ số ma túy Trần Nguyễn Hoàng B mua của Hồ Quốc P đã được B sử dụng hết vào ngày 24/11/2022.

Vật chứng thu giữ: Không

Tại Cáo trạng số 177/CT - VKS –KV16 ngày 15 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hồ Quốc P về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Hồ Quốc P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 388.888 đồng (Ba trăm tám mươi tám ngàn tám trăm tám mươi tám đồng) thu lợi bất chính của Hồ Quốc P.

Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone (không nhớ rõ loại) của Hồ Quốc P sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Trần Nguyễn Hoàng B đã bị thất lạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không thu hồi được.

Đối với người tên L bán ma túy cho Hồ Quốc P và đối tượng giao ma túy cho Trần Nguyễn Hoàng B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi của Trần Nguyễn Hoàng B mua ma túy của Hồ Quốc P để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt theo Bản án số 237/2023/HS-ST ngày 14/8/2023.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, tại phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ ngày 23/11/2022, tại Chung cư O khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Quốc P bán cho Trần Nguyễn Hoàng B 02 bịch ma túy loại Chali, nửa hộp khay năm ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng số 177/CT - VKS – KV16 ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bà ngoại bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương, bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền thu lợi bất chính, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng.

Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ sức răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt chính là hình phạt tù nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone (không nhớ rõ loại) của Hồ Quốc P sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Trần Nguyễn Hoàng B đã bị thất lạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không thu hồi được.

Xét số tiền 388.888 đồng là tiền thu lợi bất chính của Hồ Quốc P cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi của Trần Nguyễn Hoàng B mua ma túy của Hồ Quốc P để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt theo Bản án số 237/2023/HS-ST ngày 14/8/2023.

Đối với đối tượng tên L bán ma túy cho Hồ Quốc P và đối tượng giao ma túy cho Trần Nguyễn Hoàng B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đề nghị của đại diện Viện kiển sát là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2025.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 388.888 đồng thu lợi bất chính của Hồ Quốc P.

(Theo biên lai thu tiền số 0001349 ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hồ Quốc P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ