vanban.org

Bản án 66/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu B được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Thu B và anh T, giao cháu Nguyễn Thị Diễm H - sinh ngày: 29/12/2008 cho chị T1 Ba tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Thu B - Nguyễn Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu B được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11-3-2026
“V/v Tranh chấp HNGĐ - xin ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Văn Thuận

Bà Trần Thị Mộng Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 202/2025/TLST - HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2026/QĐXXST- HNGĐ, ngày 02 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu B - sinh năm 1985. Có mặt.

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1983. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Đặng Thị Thu B trình bày:

Chị B và anh Nguyễn Văn T tự tìm hiểu nhau khoảng 05 tháng, được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2003. Đến 2006, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng hạnh phúc gần 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm kinh tế gia đình, không phù hợp tính ý, không tin tưởng nhau, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 9 năm 2025 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị B cương quyết yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn N - sinh ngày: 04/6/2004 và Nguyễn Thị Diễm H - sinh ngày: 29/12/2008. Hiện cháu N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Nguyễn Văn T trình bày:

Quá trình chung sống thì vợ chồng có mâu thuẫn, không tự hòa giải hàn gắn hạnh phúc được, anh T còn thương vợ và các con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh T thống nhất theo ý kiến của chị Thu B và theo nguyện vọng của con, đồng ý giao cháu H cho chị T1 Ba tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án. Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, và phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị B và anh T đều xác định quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn nhưng không hàn gắn được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị B cương quyết yêu cầu ly hôn, anh T không đưa ra được giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị B được ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị B và anh T có 02 con chung, hiện cháu N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, chị B và anh T thống nhất giao cháu H cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, nên yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 của luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận thỏa thuận.

Do chị T1 Ba không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên yêu cầu Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Ba P chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Đặng Thị Thu B khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn T. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, tỉnh An Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu B và anh Nguyễn Văn T cưới nhau năm 2003, đến năm 2006 anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị B xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Anh chị đã ly thân từ tháng 09/2025 cho đến nay.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh T thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng không tự hòa giải, hàn gắn được, anh T cũng không đưa ra giải pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chị Thu B cương quyết xin ly hôn, anh chị đã ly thân từ tháng 09/2025, không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị B và anh T ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu B được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung:

Theo lời trình bày của chị Thu B và anh T và các tài liệu do chị B cung cấp thì có cơ sở xác định chị B và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Văn N - sinh ngày: 04/6/2004 và Nguyễn Thị Diễm H - sinh ngày: 29/12/2008. Hiện cháu N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, anh T đồng ý giao cháu H cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, cháu H có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục chung sống với chị Thu B, do đó anh T và chị Thu B thống nhất giao cháu H cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp tại khoản 2 Điều 81 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Do chị T1 Ba không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Án phí ly hôn sơ thẩm chị Ba P nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002824 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu B được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Thu B và anh T, giao cháu Nguyễn Thị Diễm H - sinh ngày: 29/12/2008 cho chị T1 Ba tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3.Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm chị Đặng Thị Thu B phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002824 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày tuyên án (ngày 11/3/2026).

Cỡ chữ