- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Trần Thị Diễm M bị đơn Đặng Minh T"
- Tòa quyết gì? Cho chị Trần Thị Diễm M ly hôn anh Đặng Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; luật phá sản và luật hòa giải; luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2026/HNGĐ-ST Ngày 03-6-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cung
2. Ông Phạm Xuân Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 152/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm M, sinh năm 1992; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Số E N, khu vực T, phường A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Minh T, sinh năm 1989; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Số D N, phường A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 3 năm 2026, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Diễm M trình bày: Chị và anh Đặng Minh T quen biết, tìm hiểu một thời gian thì tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã A cũ (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Sau khi cưới, vợ chồng chị sống chung tại nhà cha mẹ anh T ở số D N, phường A, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong quá trình sinh sống chị và anh Đặng Minh T mâu thuẫn vì anh T không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu với bạn bè về nhà đánh đập chửi bới vợ con. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng anh T không thay đổi. Chị và anh T sống ly thân từ năm 2025 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên là Đặng Hữu D, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2023. Hiện tại cháu D đang sống với chị. Nếu ly hôn, chị yêu cầu nuôi cháu D và chị M yêu cầu anh Đặng Minh T cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng cho đến khi cháu D đến 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Minh T không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cũng như không tham gia tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh T, giao cháu D cho chị M nuôi, buộc anh T cấp dưỡng nuôi cháu D theo yêu cầu của chị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Diễm M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Đặng Minh T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T đang cư trú tại số D N, phường A, tỉnh Gia Lai nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai. [2] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Chị M vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T. [3] Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị M trình bày ý kiến cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào chứng cứ này để giải quyết.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Diễm M và anh Đặng Minh T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã A cũ (nay là phường A, tỉnh Gia Lai) nên hôn nhân giữa chị M, anh T là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị M, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị xin ly hôn vì lý do trong quá trình sinh sống anh T không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu với bạn bè về nhà đánh đập chửi bới vợ con. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Minh T không đến Tòa án làm việc, cũng không có ý kiến phản hồi hay biện pháp nào thể hiện thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng. Tuy là vợ chồng hợp pháp nhưng chị M và anh T không có tình nghĩa vợ chồng, sống ly thân một thời gian dài. Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị M được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là Đặng Hữu D, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2023. Hiện tại cháu D đang sống với chị M và chị yêu cầu được nuôi cháu D. Xét thấy, thời gian sống ly thân, cháu D sống với chị M, gắn bó thân thiết với mẹ, chị M vẫn đảm bảo các điều kiện để nuôi cháu D được phát triển bình thường. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu D cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Trần Thị Diễm M yêu cầu anh Đặng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, không có tài liệu, chứng cứ xác định được mức thu nhập cụ thể của anh T. Căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng nuôi con không thấp hơn ½ tháng lương tối thiểu vùng nơi anh T đang cư trú (vùng IV) tương đương 3.700.000 đồng/2 = 1.850.000 đồng. Xét thấy mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho cháu D là phù hợp, bảo đảm quyền lợi của cháu và phù hợp với điều kiện thực tế. Do đó, căn cứ Điều 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng. Vì không có căn cứ xác định thời gian anh T vi phạm nghĩa vụ nuôi con nên thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 6 năm 2026 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ: Chị M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Diễm M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Anh Đặng Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
1. Cho chị Trần Thị Diễm M ly hôn anh Đặng Minh T.
2. Giao con chung là cháu Đặng Hữu D, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2023 cho chị Trần Thị Diễm M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện cháu D đang sống với chị M.
Anh Đặng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Hữu D hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 6 năm 2026 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Chị Trần Thị Diễm M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001826 ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Anh Đặng Minh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 2 – Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 2 – Gia Lai; - UBND phường An Nhơn, tỉnh Gia Lai (Số 68/2019); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |