vanban.org

Bản án 66/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị L đối với anh Nguyễn Thanh H. Chị Thị L được ly hôn đối với anh Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 19-7-2022 cho chị Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị L "Ly hôn" Nguyễn Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị L đối với anh Nguyễn Thanh H. Chị Thị L được ly hôn đối với anh Nguyễn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 17-3-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hoà

2. Ông Đoàn Tấn Tiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Không thuộc trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 17 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thị L, sinh ngày 09-7-2004; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp T, xã M, tỉnh Đồng Nai; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 16-12-2001; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29-9-2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh H sau khi qua một thời gian tìm hiểu thì tiến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện từ năm 2021 và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước vào ngày 17-3-2023. Vợ chồng chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó anh H lăng nhăng, không chung thuỷ, không tôn trọng chị, từ đó dẫn đến vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, chung sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong công việc cũng như cuộc sống, chị đã cố gắng nhường nhịn để chung sống nhưng ngày càng bất đồng quan điểm nhiều hơn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị và anh H đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Do không còn tình cảm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Chị và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 19-7-2022. Cháu H1 hiện đang sống với chị nên chị yêu cầu được nuôi cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Trong thời gian chung sống chị và anh H không tạo lập được tài sản chung, không thiếu nợ ai, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Thị L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H. Anh H cư trú tại ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.

Chị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và được Tòa án chấp nhận. Anh H vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Thị L và anh Nguyễn Thanh H tự nguyện sống với nhau từ năm 2021 trên cơ sở tự nguyện và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước vào ngày 17-3-2023, hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị L trình bày: Vợ chồng chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó anh H lăng nhăng, không chung thuỷ, không tôn trọng chị, từ đó dẫn đến vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, chung sống không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm trong công việc cũng như cuộc sống, chị đã cố gắng nhường nhịn để chung sống nhưng ngày càng bất đồng quan điểm nhiều hơn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay.

Toà án đã triệu tập anh H để tham gia tố tụng, nhưng anh H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Anh H không có thiện chí, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân gia đình giữa chị L và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cho thấy không có khả năng hàn gắn đoàn tụ mối quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị L đối với anh Nguyễn Thanh H là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 19-7-2022, cháu H1 hiện đang sống với chị L. Chị có yêu cầu được nuôi cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Anh H không tham gia tố tụng nên không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy:

Cháu H1 sinh ngày 19-7-2022 còn quá nhỏ, hiện cháu đang được chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ trước đến nay, anh H không tham gia tố tụng tại Toà nên không biết ý kiến của anh H về việc nuôi con như thế nào nên giao cháu H1 cho chị Liên tiếp T nuôi dưỡng là phù hợp với độ tuổi, nhu cầu chăm sóc của cháu và phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Thị L là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị L đối với anh Nguyễn Thanh H. Chị Thị L được ly hôn đối với anh Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 19-7-2022 cho chị Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005786 ngày 06-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ án phí.

5. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ