vanban.org

Bản án 66/2026/HNGĐ-ST — Các yêu cầu khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị H. Chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn U.

Về việc nuôi con chung: Chị Phan Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn U không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu khác — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H -L LH"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị H. Chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn U.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG
Bản án số: 66/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 9 - 2026 "V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tuấn Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Minh Tuấn

Bà Nguyễn Thị Kim Chung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lăng Đức Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Lù Văn Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2026/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2026/QĐST-DS, ngày 28 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã H, tỉnh Tuyên Quang; Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang; Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; “vắng mặt lần 2, không có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2025 và tại phiên toà chị Phan Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn U trên cơ sử tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay là xã V, tỉnh Tuyên Quang) vào ngày 14/6/2004, có tổ chức cưới xin theo phong tục địa phương. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, mỗi người một quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có sự động viên chia sẻ, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên can thiệp hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện tại chị thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, có níu kéo cũng không hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn U theo quy định.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/7/2001 và cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi cháu T cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh U phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu V đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng lao động và tự chăm sóc được bản thân, do vậy chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn anh Nguyễn Văn U vắng mặt, anh U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không nộp bản tự khai và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án cho Tòa án. Tòa án đã giao Thông báo về việc thụ lý vụ án và Giấy triệu tập cho P Trưởng thôn T, xã H là bà Vũ Thị Thanh H1, bà H1 đã nhận văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho cho anh U được biết việc chị H yêu cầu ly hôn anh U. Anh Nguyễn Văn U nhiều lần vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại các Biên bản xác minh ngày 30/7/2026 của Toà án nhân dân khu vực 5

- Tuyên Quang với Phó Trưởng thôn T, xã H và Chuyên viên Văn phòng HĐND và UBND phụ trách lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch xã H, tỉnh Tuyên Quang nơi chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn U sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:

Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn U tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2001, trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tính Tuyên Quang) vào ngày 14/06/2004. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình; việc mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả; do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình chung sống chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn U có hai con chung là cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/07/2001 và cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014 và hai vợ chồng đều là lao động tự do, không có công việc ổn định; cả 2 vợ chồng đều đi làm thuê nhưng chị H có thu nhập ổn định hơn đảm bảo cho cuộc sống nuôi con ăn học, còn anh U thì lười lao động đi làm không cố định nay đây mai đó không có thu nhập để cùng vợ trang trải cuộc sống gia đình. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn U có tạo lập được tài sản gì chung hay không thì tôi không nắm được, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên thôn và chính quyền xã không cung cấp thông tin gì thêm.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn U; Về việc nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014 cho chị Phan Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, anh U không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/7/2001 đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng lao động và tự chăm sóc được bản thân, do vậy không đề cập xem xét; Về tài sản chung, công nợ chung: Không đề cập xem xét; Về án phí: Nguyên đơn là chị Phan Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, bị đơn là anh Nguyễn Văn U không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do chị Phan Thị H có đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền theo cấp xét xử thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội. Bị đơn anh Nguyễn Văn U có nơi cư trú tại thôn T, xã H, tỉnh Tuyên Quang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thẩm quyền theo lãnh thổ là Tòa án nơi bị đơn cư trú nên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án thông qua phó trưởng thôn T, anh Nguyễn Văn U nhận văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh U vẫn không có mặt và cũng không có ý kiến gì về việc chị Phan Thị H yêu cầu ly hôn. Xét thấy Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn anh U vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn U.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn U tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/6/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tính T) nên hôn nhân giữa chị H và anh U là hợp pháp.

[4] Xét về tình trạng hôn nhân: Quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh U chị H sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2023 anh U, chị H xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, mỗi người một quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có sự động viên chia sẻ, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên can thiệp hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau, việc ai người đấy làm không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình giải quyết, mặc dù Toà án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho anh U nhưng anh U vẫn vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị H. Chị H xác định không còn tình cảm với anh U, vợ chồng sống ly thân trong thời gian rất dài nên chị H kiên quyết xin ly hôn. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị H không tạo điều kiện để tiếp tục chung sống. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh U thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai không quan tâm, chăm sóc đến nhau. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị H.

[5] Về việc nuôi con chung: Thời gian chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/7/2001 và cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cháu T cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh U phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chị H nuôi cháu T đã đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu T tốt, chị H có thu nhập ổn định đảm bảo cho cuộc sống nuôi con ăn học, còn anh U đi làm không cố định nay đây mai đó, không có thu nhập ổn định, quá trình giải quyết Tòa án cũng đã lấy lời khai của cháu T, cháu T có nguyện vọng được ở với chị H. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận giao cháu T cho chị hằng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh U không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh U được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh U thực hiện quyền này. Riêng cháu Nguyễn Văn V, sinh ngày 07/7/2001 đã trên 18 tuổi, có đủ khả năng lao động và tự chăm sóc được bản thân, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ cần được chấp nhận.

[8] Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 68, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị H. Chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn U.

2. Về việc nuôi con chung: Chị Phan Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thủy T, sinh ngày 30/7/2014 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi; anh Nguyễn Văn U không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị H, anh U có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang theo biên lai thu số: 0001097, ngày 26/5/2026.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 và Điều 36 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ