vanban.org

Bản án 66/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Định Ngọc Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HSST
Ngày: 17-12-2025

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Phát

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy

Bà Nguyễn Thị Liệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu chính trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai (xét xử trực tuyến) vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Đinh Ngọc Q, sinh năm 1999 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Trùng D, sinh năm 1967 và con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1969. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Cẩm N1, sinh năm 2003 và có 01 con sinh năm 2024. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 16/12/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 488/2020/HSPT. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/02/2024, chưa đóng án phí. Bị cáo bị bắt quả tang và bị giam, giữ từ ngày 01/5/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ - Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực Đ - Công an tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 01/5/2025, Công an xã T kiểm tra nhà của Đinh Ngọc Q ở tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai). Kết quả phát hiện Q giấu 01 gói ma túy tại vị trí đầu giường phòng ngủ của Q và 01 gói ma túy trong cốp xe mô tô hiệu Suzuki biển số 60B4-191.91. Qua làm việc, Q khai nhận mua 02 gói ma túy trên của một nam thanh niên tên H, tại khu vực bến xe B với mục đích sử dụng dần. Công an xã T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Ngọc Q.

Tang vật thu giữ, gồm:

+ 02 gói nylon, bên trong chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 nỏ thủy tinh);

+ 01 điện thoại hiệu Iphone 12, số Imel 8353076693166574, số thuê bao: 0359.061.235;

+ 01 xe mô tô hiệu Suzuki, biển kiểm soát 60B4-191.91, số khung: PMSRU120U23A50937, số máy: F124-150934.

Tại Kết luận giám định số 765/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon thu giữ của Đinh Ngọc Q gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8948gam, loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra Đinh Ngọc Q tiếp tục khai nhận như sau:

Vào khoảng tháng 02/2024, Q chấp hành xong hình phạt 03 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, về sinh sống tại địa phương và bắt đầu sử dụng ma túy (loại đá) cho đến khi bị bắt. Do không có việc làm thu nhập ổn định, Q nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Để thực hiện hành vi của mình, vào khoảng cuối tháng 03/2025, Q đi đến khu vực thành phố B, tỉnh Đồng Nai tìm gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng. Ma túy mua được, Q đem về nhà lấy ra một phần để sử dụng, phần còn lại Q phân chia ra và bán.

Bán cho Lê Hải N2, sinh năm 1999, trú tại: ấp B, xã T, huyện Đ (nay là ấp B, xã T), tỉnh Đồng Nai, 01 lần, cụ thể:

+ Vào khoảng 01 giờ ngày 12/4/2025, N2 sử dụng tài khoản Z (Nicknem “nam Cà chuaaa”, số điện thoại 0357.179.957) nhắn tin cho Q (nicknem “Q”, số điện thoại 0359.061.235), hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Q đồng ý bán và yêu cầu N2 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng T, số F, tên “Đinh Ngọc Q” của Q. Sau đó, N2 sử dụng tài khoản Ngân hàng T, số 04871908601 tên “Lê Hải N2” chuyển số tiền 300.000 đồng vào tài khoản của Q, mục đích trả tiền mua ma túy. Sau khi nhận được tiền, Q lấy 01 gói ma túy, bỏ vào vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, mang đến giấu bên lề đường gần nhà N2 và gọi điện chỉ vị trí cho N2 đến lấy.

Bán cho Phạm Dương L, sinh năm 1995, trú tại: ấp H, xã T, huyện Đ (nay là ấp H, xã T), tỉnh Đồng Nai, 02 lần, cụ thể:

+ Lần thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ ngày 03/04/2025, L đi đến nhà Q tại ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai tìm gặp Q, hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Q đồng ý bán và đưa cho L 01 gói ma túy đá và yêu cầu L chuyển tiền vào tài khoản Momo của Q, được đăng ký bằng số điện thoại 0359.061.235. Sau khi nhận được ma túy, L sử dụng tài khoản Momo (đăng ký bằng số điện thoại 0987.845.472) chuyển vào tài khoản Momo của Q, số tiền 900.000 đồng, mục đích trả 300.000 đồng tiền mua ma túy và nhờ bị can đưa lại cho L 600.000 đồng tiền mặt (đổi tiền).

+ Lần thứ hai: Vào khoảng 16 giờ ngày 14/04/2025, L đi đến nhà Q tại ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai tìm gặp Q, hỏi mua 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Q đồng ý bán và đưa cho L 01 gói ma túy đá và yêu cầu L chuyển tiền vào tài khoản momo của Q, được đăng ký bằng số điện thoại 035.906.1235. Sau khi nhận được ma túy, L sử dụng tài khoản momo (đăng ký bằng số điện thoại 0987.845.472) chuyển vào tài khoản momo của Q, số tiền 300.000 đồng, mục đích trả tiền mua ma túy.

Quá trình điều tra, Đinh Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki, biển kiểm soát 60B4-191.91, số khung: PMSRU120U23A50937, số máy: F124-150934 thu giữ của Đinh Ngọc Q. Qua trình điều tra bị can Q khai mua xe mô tô trên của một nam thanh niên tên thường gọi Út H1 (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) với giá 10.000.000 đồng, việc mua bán chỉ thỏa thuận bằng miệng, không làm hợp đồng mua bán, có giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng đã bị mất. Số khung, số máy của xe không nguyên bản, đã bị mài hủy, đục lại, biển kiểm soát 60B4-191.91 gắn trên xe, kết quả tra cứu xác định không có xe mô tô nào có biển kiểm soát trên, nên không thể truy nguyên được nguồn gốc xe. Xét thấy xe mô tô trên không rõ nguồn gốc, xuất xứ, bị can Q sử dụng xe để làm nơi giấu ma túy, nên đề nghị tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 900.000 đồng do gia đình của Đinh Ngọc Q (chị Đinh Thị Mỹ D1, sinh năm 1994, trú tại: tổ A, ấp B, xã T, tỉnh Đồng Nai, chị ruột của bị can Đinh Ngọc Q) tự nguyện giao nộp là tiền của Q có được do bán ma túy cho Lê Hải N2 và Phạm Dương L, nên đề nghị tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.

Đối với những người liên quan:

Đối với Lê Hải N2, sinh năm 1999, trú tại: ấp B, xã T, huyện Đ (nay là ấp B, xã T), tỉnh Đồng Nai, vào ngày 12/4/2025, N2 mua của Đinh Ngọc Q 01 gói ma túy với số tiền 300.000 đồng và đã sử dụng hết cho bản thân, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Riêng hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” Công an xã T đã lập hồ sơ quản lý và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 67/2025/QĐ-TA ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án khu vực 7 – Đồng Nai)

Đối với Phạm Dương L, sinh năm 1995, trú tại: ấp H, xã T, huyện Đ (nay là ấp H, xã T), tỉnh Đồng Nai, L mua ma túy của Đinh Ngọc Q 02 lần, vào ngày 03/4/2025 và 14/4/2025, mỗi lần số tiền 300.000 đồng và đã sử dụng hết cho bản thân, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Riêng hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T đã lập hồ sơ quản lý và áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 36/QĐ-QLNN ngày 16/6/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Nai.

Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV7 ngày 06/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai để xét xử đối với bị cáo Đinh Ngọc Q về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Q từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 765/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone 12; 01 xe mô tô hiệu Suzuki gắn biển số 60B4-191.91.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố, đồng thời không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của các bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã mô tả, cụ thể:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/5/2025 Công an xã T kiểm tra hành chính nhà của bị cáo Đinh Ngọc Q tại tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) thì phát hiện bị cáo Q cất giấu 01 gói tinh thể màu trắng tại đầu giường phòng ngủ và 01 gói tinh thể màu trắng trong cốp xe mô tô hiệu Suzuki biển số 60B4-191.91. Kết luận giám định xác định 02 gói tinh thể màu trắng thu giữ là ma túy có tổng khối lượng 0,8948 gam, loại Methaphetamine. Bị cáo Q khai nhận số ma túy này bị cáo mua tại khu vực bến xe B của đối tượng tên H về mục đích để sử dụng dần. Quá trình rà soát các đối tượng liên quan đến ma túy trên địa bàn thì Công an xã T phát hiện Phạm Dương L và Lê Hải N2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời xác định Phạm Dương L đã liên hệ với Đinh Ngọc Q mua ma túy 02 lần vào ngày 03/4/2025 và 18/4/2025 mỗi lần 300.000 đồng; Lê Hải N2 liên hệ với bị cáo Q mua ma túy 01 lần vào ngày 12/4/2025 với số tiền 300.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo Q đã khai nhận hành vi bán ma túy cho L và N2 để thu lợi số tiền 900.000 đồng. Lời khai của bị cáo Q phù hợp với lời khai của Phạm Dương L, Lê Hải N2 và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ những phân tích trên đã có đủ căn cứ kết luận các hành vi của bị cáo Đinh Ngọc Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự và “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nhà nước ta nghiêm cấm các hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức và biết rõ ma túy là mầm móng của các loại tội phạm khác, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính 900.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 765/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút).

01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là xe mô tô hiệu Suzuki, biển kiểm soát 60B4-191.91, số khung: PMSRU120U23A50937, số máy: F124-150934 thu giữ của bị cáo Đinh Ngọc Q, quá trình điều tra bị cáo Q khai mua xe mô tô trên của một nam thanh niên tên thường gọi Út H1 (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) với giá 10.000.000 đồng, việc mua bán chỉ thỏa thuận bằng miệng, không làm hợp đồng mua bán, có giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng đã bị mất. Tại Kết luận giám định số 1957/KL-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận số khung, số máy của xe không nguyên bản, đã bị mài hủy, đục lại. Biển kiểm soát 60B4-191.91 gắn trên xe, kết quả tra cứu xác định không có xe mô tô nào có biển kiểm soát trên, nên không thể truy nguyên được nguồn gốc xe. Xét thấy xe mô tô trên không rõ nguồn gốc, xuất xứ, bị cáo Q sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo Đinh Ngọc Q đã tự nguyện nộp số tiền 900.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy mà có tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối tượng tên H chưa rõ thông tin, lai lịch có hành vi bán ma túy cho bị cáo Đinh Ngọc Q. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của đối tượng H để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối tượng Lê Hải N2 có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an xã T đã đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc và được giải quyết theo Quyết định số 67/2025/QĐ-TA ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai).

Đối tượng Phạm Dương L có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, Công an xã T đã lập hồ sơ quản lý và áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 36/QĐ-QLNN ngày 16/6/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Nai.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai về tội danh, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 251; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc Q 08 (tám) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Đinh Ngọc Q phải chịu hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang 01/5/2025.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 1, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1 Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 765/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút).

2.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, số Imel 8353076693166574 gắn số thuê bao 0359.061.235; 01 xe mô tô hiệu Suzuki gắn biển số 60B4-191.91 (không có giấy đăng ký xe).

2.3 Buộc bị cáo phải nộp 900.000 đồng (chin trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000842 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bị cáo đã nộp đủ số tiền này.

(Vật chứng và tài sản trên được giao nhận theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Đồng Nai)

3. Căn cứ khoản 2 Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 726/2016/UBTVQH14 ngày 70/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đinh Ngọc Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ