vanban.org

Bản án 66/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Á p dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Quốc Q 01(mô ̣t) năm 09(chin) tháng tù. Thời hạn tù́ tính từ ngày 23/12/2024 bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Quý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
́
THÀ NH PHÔ PLEIKU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số: 66/2025/HS-ST
Ngày: 18/4/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ PLEIKU – TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lý và ông Quách Đình Hoằng;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Nhớ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 02/4/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quốc Q, giới tính: Nam, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1998, tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Văn V, sinh năm 1967 và bà: Đinh Thị Phương T, sinh năm: 1974; bị cáo có vợ tên Lê Thị Hồng N (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Lê Quốc Q bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 01/01/2025, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam – Phân trại P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1959; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc Q sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 6 năm 2024. Qua mối quan hệ xã hội, Q có số điện thoại của một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) ở tỉnh Kon Tum có bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào trưa ngày 21/12/2024, Q gọi điện thoại cho người thanh niên này hỏi mua ma tuý với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thì người này đồng ý và hẹn gặp nhau trên đường Quốc lộ 14 đoạn tiếp giáp 02 tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Q đón taxi (không rõ hãng xe và người điều khiển) chở đến điểm hẹn gặp người thanh niên, mua được 01 gói nilon chứa ma túy và 03 đoạn ống hút nhựa chứa ma tuý. Sau đó, Q đã sử dụng hết 02 đoạn ống hút nhựa chứa ma tuý tại các nhà nghỉ trên địa bàn thành phố P (Q không nhớ địa chỉ cụ thể); phần còn lại, Q cất giấu trong người để sử dụng sau. Đến 13 giờ 15 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực hành lang trước phòng trọ số 04 thuộc dãy trọ 33 đường S, Tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi Q đang đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố P phối hợp Công an phường Đ, thành phố P phát hiện, bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: T1 trong túi quần bên trái Q đang mặc trên người 01 (một) gói nilon, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh bịt kín hai đầu bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể (đều đã được niêm phong theo quy định), 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 92425 1913).

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy vào ngày 23/12/2024, kết quả: Lê Quốc Q dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 51 ngày 31/12/2024 của phòng Kỹ thuật - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon và trong 01 đoạn ống nhựa (màu xanh), được niêm phong trong bì thư (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,0977 gam”.

Tại bản cáo trạng số: 70/CT-VKS, ngày 11/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố PleiKu đã truy tố bị cáo: Lê Quốc Q ra trước Toà án nhân dân thành phố PleiKu để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo mà bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử pha ̣t bi ̣ cáo Lê Quốc Q từ 02(hai) năm đến 02(hai) năm 03(ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Q không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Đối với vật chứng vụ án đã thu giữ của bị cáo:

- 01 bì công văn ghi số 51/PC09 ngày 31/12/2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 92425 1913) là công cụ, phương tiện để mua ma túy, đề nghị tịch thu sung công.

Bị cáo Lê Quốc Q đã nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét sự vắng mặt của người chứng kiến không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lê Quốc Q tại phiên toà phù hợp với lời khai người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án thể hiện:

Bị cáo Lê Quốc Q là người có sử dụng chất ma túy. Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 23/12/2024, tại khu vực hành lang trước phòng trọ số 04 thuộc dãy trọ 33 đường S, tổ C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khi bi ̣ cáo Q đang đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố P phối hợp Công an phường Đ, thành phố P, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Hành vi tàng trữ ma túy loại Methamphetamine 1,0977 gam của bị cáo Q đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khi quyết định hình phạt.

Để có một mức án phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt; tuy nhiên bản thân bị cáo đã trưởng thành để nhận thức được tính nguy hiểm khi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng; Methamphetamine là tác nhân gây nguy hại lớn cho sức khoẻ của con người, người sử dụng sẽ gặp ảo giác, ảo thanh, hủy hoại trí óc và cơ thể, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng tội phạm, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Vậy nên cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo Q không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng nam thanh niên là người mà bị cáo Q khai đã bán ma túy cho Q; Do bi ̣ cáo Q không biết được nhân thân, lai lịch của người này; Cơ quan điều tra cũng đã mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo nhưng không xác định được số điện thoại của người thanh niên này và không xác định được nội dung cuộc gọi, tin nhắn có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

. Xử lý vật chứng vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra:

- 01 bì công văn ghi số 51/PC09 ngày 31/12/2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G là mẫu vật hoàn trả sau khi giám định không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 92425 1913) là công cụ, phương tiện bi ̣ cáo sử du ̣ng để mua ma túy, cần tịch thu để sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Lê Quốc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Á p dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Quốc Q 01(mô ̣t) năm 09(chin) tháng tù. Thời hạn tù́ tính từ ngày 23/12/2024 bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

- Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 bì công văn ghi số 51/PC09 ngày 31/12/2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G.

+ Tịch thu sung công: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 92425 1913). (điê ̣n thoa ̣i cũ đa qua sữ

̉ du ̣ng, Chi cu ̣c THADS không kiểm tra tình tra ̣ng bên trong).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 80/2025, ngày 13/3/2025 của C1 am thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án Dân Sự thà nh phố PleiKu, tỉnh Gia Lai).

- Về án phi: Căn cứ

́ khoản 2 Điều 135 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự̀

năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án) và Danh mục án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Quốc Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghin đồng)

̀ tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quy Nhã

̀ nướ c.

-Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/4/2025) bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luâ ̣t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ