- Tranh chấp gì? án hình sự — "K "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI TỈNH GIA LAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 26/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Hiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 11 năm 1993 tại Gia Lai; thường trú: Làng BP, phường AP, tỉnh Gia Lai và cư trú: Làng C 1, phường AP, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số 064093004432; con ông L (đã chết) và H’e, sinh năm 1958; bị cáo có vợ K1, sinh năm 1997 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023; nhân thân tốt; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 18 tháng 7 năm 2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh T, sinh năm 1983; địa chỉ: Làng C 1, phường AP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
Người phiên dịch: Ông Kpă Manh - Cán bộ Trường Chính trị tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
K sử dụng chất ma túy (loại ma túy Methamphetamine) từ khoảng thời gian cuối năm 2020. Thông qua các mối quan hệ xã hội, K có tài khoản facebook của một đối tượng tên là V (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Vào khoảng 12 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2025, K gọi điện qua ứng dụng Messenger cho V hỏi mua ma túy, V đồng ý và hẹn gặp tại khu vực đường TĐ, phường AP, tỉnh Gia Lai. Sau đó, K đi bộ đến chỗ hẹn, gặp và mua của V 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K cất gói ma túy vào trong người và đi tìm nơi để sử dụng. Đến 12 giờ 15 phút cùng ngày, K đang đi bộ tại đầu hẻm số 18 đường TĐ, phường AP, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra về ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Công an phường AP bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 gói nilon bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 939967384)
Qua trưng cầu, tại Kết luận giám định số 43/KL - KTHS ngày 25 tháng 7 năm 2025 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon, được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1914 gam”
Tại Cáo trạng số 04/CT - VKS ngày 17 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai truy tố bị cáo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, bị cáo đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai nêu trong Bản cáo trạng; không có ý kiến khiếu nại gì đối với Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xét xử bị cáo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025; không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025 với mức hình phạt từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất hướng xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người chứng kiến không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối tượng V là người bán ma túy cho bị cáo K nhưng bị cáo không biết nhân thân lai lịch của đối tượng V; trong điện thoại của K không lưu số điện thoại của V, dữ liệu Camera khu vực đường TĐ, phường AP, tỉnh Gia Lai không còn lưu trữ hình ảnh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh điều tra và xử lý sau.
Về hành vi của các bị cáo: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại đầu hẻm đường TĐ, phường AP, tỉnh Gia Lai, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Công an phường AP kiểm tra, đã phát hiện bắt quả tang K cất giấu trong người 01 (một) gói nilon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1914 gam mà K đã mua từ trước đó nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II.C được ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất; thuộc chất ma túy được sử dụng hạn chế trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ chất Methamphetamine phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định như sau “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây… thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam”.
Như vậy hành vi của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025 như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã truy tố.
Methamphetamine là chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp, sử dụng lâu dài ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây nên tình trạng ảo giác, hạn chế khả năng kiểm soát hành vi từ đó người nghiện thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác. K nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, nguồn gốc phát sinh các tội phạm và những tệ nạn xã hội khác nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức cảnh tỉnh, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo K thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K
Về Xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 (một) bì công văn niêm phong dán kín ghi số 43/PC09 ngày 25 tháng 7 năm 2025, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai; đây là ma túy còn lại sau khi giám định được hoàn trả, xét là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu đỏ, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 939967384) bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025;
Xử phạt bị cáo K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 18 tháng 7 năm 2025.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn niêm phong dán kín ghi số 43/PC09 ngày 25 tháng 7 năm 2025, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu đỏ, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 48000 939967384) (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Gia Lai không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong).
(Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Gia Lai).
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo K phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai; - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Võ Thị Thanh Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |